Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn vừa ký ban hành Nghị quyết 111 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về phân loại đô thị và có hiệu lực thi hành ngay từ ngày đầu tháng 1-2026.
Nghị quyết nêu rõ việc phân loại đô thị là cơ sở để tổ chức, quản lý, phát triển hệ thống đô thị quốc gia, vùng, tỉnh, quản lý đơn vị hành chính đô thị và đánh giá thực hiện theo quy hoạch đô thị.
Việc phân loại đô thị dựa trên cơ sở quy hoạch đô thị, bảo đảm các xu hướng phát triển đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu, xanh, thông minh, hiện đại và bền vững theo từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội.
Theo phân loại mới, hệ thống đô thị của Việt chỉ còn bốn loại đô thị, gồm đô thị loại đặc biệt, loại I, loại II và loại III. Trong đó, Hà Nội và TP.HCM tiếp tục được xác định là đô thị loại đặc biệt. Các TP Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng và Cần Thơ vẫn là đô thị loại I. TP Thủ Đức và các khu vực phường thuộc quận trước khi sắp xếp được xác định là đô thị loại II.
Đô thị loại IV và V sẽ không còn trong hệ thống phân loại. Các đô thị loại IV, V, thị xã và thị trấn trước đây chưa được công nhận loại đô thị được xác định là đô thị loại III theo khung mới.
Từ năm 2026, cả nước chỉ còn bốn loại đô thị, trong đó Hà Nội và TP.HCM tiếp tục được xác định là đô thị loại đặc biệt. Ảnh: THUẬN VĂN
Đô thị loại đặc biệt là đô thị trung tâm tổng hợp quốc gia, quốc tế, có vai trò, vị trí và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội đặc biệt. Nghị quyết cũng không quy định việc tổ chức đánh giá phân loại lại đối với Hà Nội và TP.HCM, do đây là nhóm đô thị có tính chất riêng.
Đô thị loại I là đô thị trung tâm quốc gia, có vai trò, vị trí, chức năng trung tâm tổng hợp của quốc gia. Để đạt đô thị loại I, nghị quyết nêu rõ ngưỡng quy mô dân số phải từ 2,5 triệu người; thu nhập bình quân đầu người thuộc nhóm 10 địa phương đứng đầu trong cả nước; tốc độ tăng trưởng GRDP thuộc nhóm 10 tỉnh, thành có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất hằng năm trong ba năm gần nhất trong cả nước…
Cạnh đó, đô thị loại I còn phải có khu chức năng hoặc thuộc khu chức năng vai trò cấp quốc gia, quốc tế; có khả năng tổ chức sự kiện quốc tế cấp khu vực; có công trình đầu mối hạ tầng giao thông cấp khu vực và quốc tế, cửa ngõ chính, trung tâm kết nối vùng; có giao thông vận tải hành khách công cộng…
Ngoài ra, để là đô thị loại I thì đô thị thông minh, có năng lực chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu đạt mức khá, hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới theo giai đoạn gần nhất cũng là những tiêu chí bắt buộc.
Đô thị loại II là đô thị trung tâm tỉnh, thành phố, có vai trò, vị trí, chức năng trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành của tỉnh, thành phố hoặc vùng liên tỉnh. Ở nhóm này, tiêu chí dân số phải từ 500.000 người trở lên, mật độ bình quân là 1.500 người/km2, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp đạt từ 95%. Ngoài ra cũng phải đáp ứng các tiêu chí mới về cấp thoát nước và xử lý nước thải, phân loại rác tại nguồn, sử dụng năng lượng tái tạo và dịch vụ công trực tuyến toàn trình, ngầm hóa đường dây, đường cáp cùng các hạ tầng về xã hội...
Đô thị loại III là đô thị trung tâm tiểu vùng thuộc tỉnh, thành phố, có vai trò, vị trí, chức năng trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành của tiểu vùng.
Đặc biệt, hai nhóm đô thị II và III phải đạt tối thiểu 75 điểm theo bộ tiêu chí đánh giá toàn đô thị. Đồng thời, điểm trung bình đánh giá trình độ phát triển đô thị của các đơn vị hành chính cấp xã phải đạt tối thiểu 48 điểm, phải có ít nhất một xã/phường đạt tối thiểu 75 điểm. Đơn vị hành chính cấp xã chỉ được đánh giá đạt trình độ phát triển đô thị khi có tổng điểm của các tiêu chí đạt tối thiểu là 75 của loại đô thị tương ứng.
NGUYỄN THẢO