Việt Nam dự kiến trích thuế thuốc lá, rượu cho y tế: Kinh nghiệm từ các nước

Việt Nam dự kiến trích thuế thuốc lá, rượu cho y tế: Kinh nghiệm từ các nước
2 giờ trướcBài gốc
Ảnh minh họa
Chính phủ dự kiến từ năm 2028 sẽ thí điểm cơ chế trích một phần thuế thuốc lá, rượu bia và đồ uống có đường để hỗ trợ điều trị bệnh mãn tính, khám sức khỏe định kỳ và sàng lọc bệnh cho người dân.
Đây được xem là một trong những định hướng mới nhằm mở rộng nguồn lực cho hệ thống y tế trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng và Quỹ bảo hiểm y tế chịu áp lực lớn về chi trả.
Theo kế hoạch triển khai bảo hiểm y tế toàn dân giai đoạn mới do Thủ tướng ban hành ngày 13.5, Bộ Y tế và Bộ Tài chính được giao xây dựng nghị quyết thí điểm, hoàn thành trong quý IV.2028.
Song song với đó, Chính phủ cũng yêu cầu mở rộng nguồn thu để bảo đảm Quỹ bảo hiểm y tế hoạt động bền vững, đồng thời nghiên cứu cơ chế bảo hiểm y tế bổ sung và tăng hỗ trợ cho các nhóm yếu thế.
Việc sử dụng nguồn thu từ thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các sản phẩm có hại cho sức khỏe để tái đầu tư cho y tế không phải là mô hình mới trên thế giới.
Trong nhiều năm qua, nhiều quốc gia đã áp dụng cơ chế “earmarking”, tức dành riêng một phần nguồn thu từ thuốc lá, rượu bia hoặc đồ uống có đường cho các quỹ sức khỏe cộng đồng, y tế dự phòng hoặc bảo hiểm y tế toàn dân.
Tại châu Á, Philippines thường được xem là một trong những ví dụ tiêu biểu nhất. Năm 2012, nước này thực hiện cải cách “Sin Tax”, tăng mạnh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá và rượu bia nhằm vừa hạn chế tiêu dùng, vừa tạo nguồn tài chính cho hệ thống y tế.
Theo Bộ Y tế Philippines, có giai đoạn khoảng 59% nguồn thu từ “sin tax” được phân bổ trực tiếp cho các chương trình y tế, bao gồm mở rộng bảo hiểm y tế PhilHealth, nâng cấp cơ sở khám chữa bệnh và hỗ trợ người nghèo tiếp cận dịch vụ y tế.
Kết quả mang lại khá rõ rệt. Theo nghiên cứu của Harvard Kennedy School và Quỹ Châu Á, nguồn thu từ thuế thuốc lá và rượu bia đã giúp ngân sách y tế Philippines tăng gần gấp ba sau cải cách thuế.
Tỉ lệ hút thuốc tại quốc gia này cũng giảm dần qua các năm, từ khoảng 25% dân số năm 2013 xuống còn khoảng 21% vào năm 2018.
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đánh giá đây là mô hình vừa giúp giảm tiêu dùng các sản phẩm có hại cho sức khỏe, vừa tạo nguồn lực tài chính bền vững cho hệ thống y tế công.
Trong khi đó, Thái Lan lại lựa chọn hướng đi khác khi thành lập quỹ độc lập ThaiHealth từ năm 2001. Theo luật, quỹ này được tài trợ bằng khoản phụ thu tương đương 2% trên thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá và rượu bia.
Nguồn tiền không đi qua quy trình phân bổ ngân sách thông thường mà được chuyển trực tiếp cho ThaiHealth để triển khai các chương trình nâng cao sức khỏe cộng đồng.
Mỗi năm, ThaiHealth nhận khoảng 120 triệu USD từ cơ chế này. Quỹ được sử dụng cho nhiều chiến dịch phòng chống bệnh không lây nhiễm như giảm hút thuốc, hạn chế uống rượu bia, khuyến khích vận động thể chất và nâng cao nhận thức về dinh dưỡng lành mạnh.
Theo WHO và nhiều nghiên cứu quốc tế, ưu điểm lớn của mô hình Thái Lan là tạo được nguồn tài chính ổn định, lâu dài cho y tế dự phòng và giảm sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước hằng năm.
ThaiHealth cũng thường được nhắc đến như một hình mẫu về quỹ nâng cao sức khỏe hoạt động độc lập, minh bạch và có khả năng chống tác động từ ngành công nghiệp thuốc lá, rượu bia.
Hàn Quốc cũng là quốc gia châu Á áp dụng mô hình dùng nguồn thu từ thuốc lá để tài trợ cho các chương trình nâng cao sức khỏe cộng đồng.
Từ năm 1995, nước này ban hành Luật Nâng cao sức khỏe quốc gia và thành lập Quỹ Nâng cao sức khỏe quốc gia. Nguồn tài chính chủ yếu của quỹ đến từ khoản phụ thu đánh trên thuốc lá, bên cạnh một phần đóng góp từ ngân sách nhà nước.
Theo cơ chế hiện hành, trong giá bán mỗi bao thuốc lá tại Hàn Quốc có một khoản “health promotion levy” được trích riêng cho quỹ này.
Số tiền thu được được sử dụng cho nhiều chương trình y tế dự phòng như chống hút thuốc, quản lý bệnh không lây nhiễm, hỗ trợ khám sức khỏe, nâng cao dinh dưỡng và thúc đẩy hoạt động thể chất trong cộng đồng.
Một phần nguồn quỹ cũng được dùng để hỗ trợ hệ thống bảo hiểm y tế quốc gia trong bối cảnh già hóa dân số khiến chi phí chăm sóc sức khỏe tăng nhanh.
Các nghiên cứu về chính sách y tế tại Hàn Quốc cho thấy việc tăng thuế thuốc lá đã góp phần làm giảm đáng kể tỉ lệ hút thuốc ở nam giới.
Theo dữ liệu của OECD và Bộ Y tế Hàn Quốc, tỉ lệ nam giới hút thuốc đã giảm từ mức trên 60% vào những năm 1990 xuống còn khoảng hơn 30% trong những năm gần đây.
Năm 2015, Hàn Quốc từng tăng mạnh giá thuốc lá thêm khoảng 80%, mức tăng lớn nhất trong lịch sử nước này. Sau đợt điều chỉnh, doanh số thuốc lá giảm mạnh trong ngắn hạn, đồng thời nguồn thu cho Quỹ Nâng cao sức khỏe quốc gia tăng đáng kể.
Chính phủ Hàn Quốc khi đó khẳng định mục tiêu không chỉ là tăng thu ngân sách mà còn thay đổi hành vi tiêu dùng và giảm chi phí y tế trong dài hạn.
Theo WHO, “thuế sức khỏe” mang lại “lợi ích kép”: vừa giúp giảm tiêu dùng các sản phẩm có hại cho sức khỏe, vừa tạo thêm nguồn lực để đầu tư trở lại cho hệ thống y tế công cộng.
Trong bối cảnh nhiều quốc gia phải đối mặt với gánh nặng bệnh không lây nhiễm và áp lực già hóa dân số, mô hình này đang được xem là một giải pháp nhằm tăng tính bền vững cho tài chính y tế.
Tại Việt Nam, áp lực đối với hệ thống y tế cũng ngày càng lớn. Theo Bộ Y tế, mỗi năm có hơn 100.000 ca tử vong liên quan đến thuốc lá, gây thiệt hại khoảng 108.000 tỉ đồng chi phí y tế và tổn thất kinh tế.
Trong khi đó, Việt Nam hiện vẫn thuộc nhóm tiêu thụ nhiều rượu bia trong khu vực, với lượng bia tiêu thụ năm 2024 khoảng 4,4 tỉ lít và nước giải khát đạt 4,7 tỉ lít.
Theo Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt sửa đổi, từ năm 2027, thuốc lá sẽ áp dụng thuế hỗn hợp gồm thuế suất 75% như hiện nay và thuế tuyệt đối tăng dần từ 2.000 đồng một bao năm 2027 lên 10.000 đồng năm 2031.
Trong bối cảnh đó, đề xuất trích một phần nguồn thu để hỗ trợ y tế được đánh giá là bước đi phù hợp với xu hướng quốc tế, đồng thời mở ra thêm nguồn lực cho mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân vào năm 2030.
ĐỨC AN
Nguồn Văn hóa : http://baovanhoa.vn/doi-song/viet-nam-du-kien-trich-thue-thuoc-la-ruou-cho-y-te-kinh-nghiem-tu-cac-nuoc-228169.html