Nhiều quốc gia liên tục đầu tư vào các công trình gỗ quy mô lớn tạo nên “cuộc đua” mới của ngành xây dựng thế giới. Ảnh minh họa.
Ngày 19/5/2026 tại Đồng Nai, Hiệp hội gỗ và thủ công mỹ nghệ Đồng Nai (DOWA) tổ chức hội thảo chia sẻ kết quả nghiên cứu và tham vấn ý kiến các bên liên quan cho báo cáo “Đánh giá tiềm năng và cơ hội phát triển thị trường vật liệu gỗ kỹ thuật trong xây dựng”. Sự kiện có sự hỗ trợ kỹ thuật từ Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Chương trình Xúc tiến Nhập khẩu Thụy Sĩ (SIPPO).
Với hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, hội thảo là diễn đàn kết nối giữa doanh nghiệp sản xuất, kiến trúc sư, chuyên gia, hiệp hội, cơ quan quản lý nhà nước cùng các tổ chức liên quan nhằm trao đổi về xu hướng thị trường, cơ hội phát triển, thách thức cũng như định hướng thúc đẩy ngành gỗ kỹ thuật tại Việt Nam trong thời gian tới.
HỆ SINH THÁI NGÀNH CÒN THIẾU LIÊN KẾT
Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Nguyễn Phương - Chủ tịch DOWA, cho biết ngành gỗ Việt Nam đã trải qua hơn hai thập kỷ tăng trưởng mạnh mẽ. Từ mức kim ngạch xuất khẩu chưa tới 1 tỷ USD vào năm 2003, đến năm 2025, con số này đã lên tới 16,7 tỷ USD. Tuy nhiên, cùng với đà phát triển đó, biên độ lợi nhuận của doanh nghiệp ngành gỗ đang dần thu hẹp trước áp lực cạnh tranh và yêu cầu phát triển bền vững ngày càng cao trên thế giới. Trong bối cảnh xu hướng xây dựng xanh, giảm phát thải carbon trở thành ưu tiên toàn cầu, gỗ kỹ thuật đang nổi lên như vật liệu chiến lược của ngành xây dựng hiện đại.
Nhiều quốc gia liên tục đầu tư vào các công trình gỗ quy mô lớn, cao tầng và thân thiện môi trường, tạo nên “cuộc đua” mới của ngành xây dựng thế giới. Dù vậy, Việt Nam hiện vẫn đứng ngoài xu hướng này, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu, phát triển và tận dụng tiềm năng của vật liệu gỗ kỹ thuật trong tương lai".
Ông Nguyễn Phương, Chủ tịch DOWA.
Ông Phạm Đức Thiềng, Chuyên gia nghiên cứu lâm nghiệp, tác giả của dự thảo báo cáo nghiên cứu “Đánh giá tiềm năng và cơ hội phát triển thị trường vật liệu gỗ kỹ thuật trong xây dựng”, cho biết trong bối cảnh ngành xây dựng toàn cầu đang chuyển mạnh sang các mô hình phát triển phát thải thấp, vật liệu gỗ kỹ thuật ngày càng được xem là giải pháp thay thế tiềm năng cho bê tông và thép trong nhiều loại công trình.
Theo ông Thiềng, nhiều nước tại châu Âu, Bắc Mỹ và châu Á đã thúc đẩy mạnh việc sử dụng gỗ kỹ thuật trong các công trình nhà ở, khách sạn, trường học, văn phòng và cả nhà cao tầng. Khác với gỗ truyền thống, vật liệu gỗ kỹ thuật được sản xuất bằng công nghệ hiện đại, có khả năng chịu lực cao, ổn định kích thước và đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật nghiêm ngặt.
Đối với Việt Nam, dù hiện là một trong những quốc gia xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất thế giới, nhưng ngành chế biến gỗ Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung vào đồ nội thất và gia công theo đơn đặt hàng, trong khi lĩnh vực vật liệu gỗ kỹ thuật phục vụ xây dựng vẫn ở giai đoạn sơ khai.
Quảng cảnh hội thảo. Ảnh: Chu Khôi.
Một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là sự thiếu kết nối giữa ngành lâm nghiệp, chế biến gỗ và xây dựng. Trong nhiều năm, ngành gỗ chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ cung ứng nguyên liệu và xuất khẩu đồ gỗ, còn lĩnh vực xây dựng chưa xem gỗ kỹ thuật là vật liệu kết cấu chính thức. Việt Nam hiện vẫn thiếu các công trình trình diễn hoặc dự án tiên phong sử dụng gỗ kỹ thuật để tạo niềm tin cho thị trường.
Theo đánh giá của các chuyên gia, rào cản lớn nhất hiện nay nằm ở hệ thống tiêu chuẩn và khung pháp lý. Dù Việt Nam đã có một số tiêu chuẩn liên quan đến gỗ ghép thanh hay gỗ nhiều lớp, nhưng vẫn chưa có bộ tiêu chuẩn đầy đủ cho thiết kế, thi công, lắp dựng và nghiệm thu công trình sử dụng gỗ khối kỹ thuật kết cấu. Việt Nam cũng chưa xây dựng được hệ thống phân loại cường độ gỗ tương đương các tiêu chuẩn quốc tế như EN của châu Âu hay ASTM của Hoa Kỳ.
Ngoài ra, việc thiếu định danh pháp lý rõ ràng cho gỗ kết cấu trong hệ thống vật liệu xây dựng đang khiến doanh nghiệp gặp khó trong quá trình thẩm định và thương mại hóa sản phẩm. Khoảng trống về tiêu chuẩn và chứng nhận không chỉ làm gia tăng chi phí đầu tư, thử nghiệm mà còn khiến doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào chứng nhận nước ngoài, qua đó hạn chế sức cạnh tranh và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành gỗ Việt Nam.
NGUỒN NGUYÊN LIỆU DỒI DÀO NHƯNG CHẤT LƯỢNG CÒN HẠN CHẾ
Theo ông Thiềng, Việt Nam được đánh giá có nhiều tiềm năng phát triển ngành vật liệu gỗ kỹ thuật nhờ lợi thế lớn về nguồn nguyên liệu rừng trồng. Sau hơn 15 năm mở rộng diện tích, đến năm 2025 cả nước đã có gần 4,9 triệu ha rừng trồng với các loại cây phổ biến như keo, cao su, thông và bạch đàn. Tuy nhiên, phần lớn diện tích hiện nay vẫn được khai thác theo chu kỳ ngắn để phục vụ sản xuất dăm gỗ, khiến nguyên liệu có đường kính nhỏ, nhiều mắt và dễ cong vênh, chưa đáp ứng tốt yêu cầu sản xuất các sản phẩm kết cấu chất lượng cao.
Đội ngũ kỹ sư, kiến trúc sư trong nước hiện còn thiếu kinh nghiệm về kết cấu gỗ hiện đại, xử lý liên kết đa vật liệu, cách âm hay kiểm soát độ ẩm cho công trình. Trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu, các trường đại học chưa tích hợp đầy đủ nội dung về thiết kế kết cấu gỗ hay công nghệ gỗ kỹ thuật hiện đại".
Ông Phạm Đức Thiềng, Chuyên gia nghiên cứu lâm nghiệp.
Bên cạnh đó, Việt Nam hiện vẫn thiếu hệ thống phân loại cường độ gỗ và tỷ lệ rừng đạt chứng chỉ quản lý bền vững còn thấp. Đến năm 2022, diện tích rừng trồng kinh doanh gỗ lớn chỉ chiếm khoảng 13% tổng diện tích rừng sản xuất, cho thấy nguồn cung phù hợp cho vật liệu gỗ kỹ thuật còn khá hạn chế. Hiện Việt Nam cũng nhập khẩu lượng lớn gỗ từ Hoa Kỳ, châu Âu, Chile hay New Zealand nhằm phục vụ sản xuất vật liệu gỗ kỹ thuật. Dù nguồn nguyên liệu này có chất lượng ổn định và đạt tiêu chuẩn quốc tế, việc phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu sẽ làm giảm tính tự chủ và hạn chế giá trị gia tăng trong nước.
Ngoài vấn đề nguyên liệu, năng lực thiết kế kỹ thuật và công nghệ sản xuất cũng là thách thức lớn. Thiết kế công trình bằng gỗ kỹ thuật đòi hỏi phương pháp tiếp cận hoàn toàn khác so với bê tông cốt thép truyền thống, đặc biệt là tư duy thiết kế để chế tạo và lắp dựng.
Theo các chuyên gia, để vật liệu gỗ kỹ thuật có thể trở thành ngành công nghiệp mới giàu tiềm năng, Việt Nam cần chiến lược phát triển đồng bộ từ hoàn thiện khung pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật đến đầu tư nghiên cứu, đào tạo và tăng cường liên kết giữa ngành lâm nghiệp, chế biến gỗ và xây dựng nhằm hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh cho ngành gỗ kỹ thuật trong tương lai.
Chu Khôi