Virus HPV vào danh mục những bệnh tiêm chủng bắt buộc
Theo Thông tư, hệ thống quản lý thông tin tiêm chủng quốc gia là hệ thống thông tin để phục vụ quản lý, cập nhật, lưu trữ, khai thác và chia sẻ dữ liệu hoạt động tiêm chủng trên phạm vi toàn quốc, bao gồm các phân hệ quản lý đối tượng tiêm chủng, vắc xin, sinh phẩm, quy trình tiêm chủng, thống kê, báo cáo và các phân hệ khác theo yêu cầu quản lý.
Virus HPV vào danh mục tiêm chủng bắt buộc từ 1/7. (Ảnh minh họa)
Sự cố bất lợi sau tiêm chủng là hiện tượng bất thường về sức khỏe bao gồm các biểu hiện tại chỗ tiêm hoặc toàn thân xảy ra sau tiêm chủng, không nhất thiết do việc sử dụng vắc xin, sinh phẩm, bao gồm phản ứng thông thường sau tiêm chủng và tai biến nặng sau tiêm chủng.
Phản ứng thông thường sau tiêm chủng là các biểu hiện lâm sàng thường gặp, có thể tự khỏi và không gây ảnh hưởng lâu dài, xảy ra sau khi sử dụng vắc xin, sinh phẩm.
Một trong những nội dung đáng chú ý tại Thông tư 13 là quy định bệnh do virus HPV (Human Papilloma Virus) ở người thuộc danh mục bệnh phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm trong tiêm chủng bắt buộc thông qua hoạt động của Chương trình tiêm chủng mở rộng.
Theo Điều 3 Thông tư 13/2026/TT-BYT, danh mục bệnh thuộc diện tiêm chủng bắt buộc gồm: viêm gan vi rút B, lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, bệnh do Haemophilus influenzae týp b, sởi, rubella, viêm não Nhật Bản, tiêu chảy do virus Rota, bệnh do phế cầu, bệnh do virus HPV và các bệnh khác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Ngoài ra, Thông tư cũng quy định cụ thể việc tổ chức tiêm chủng thường xuyên, tiêm bù liều, tiêm chiến dịch, tiêm chống dịch; chế độ thông tin, báo cáo; quản lý đối tượng tiêm chủng và hoạt động của Hội đồng tư vấn chuyên môn đánh giá nguyên nhân tai biến nặng trong quá trình sử dụng vắc xin, sinh phẩm.
Đối với tiêm chủng chống dịch, danh mục bệnh bắt buộc sử dụng vắc xin, sinh phẩm gồm: bạch hầu, bại liệt, ho gà, rubella, sởi, tả, viêm não Nhật Bản, dại, cúm, COVID-19 và các bệnh truyền nhiễm khác theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới và quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Người tiêm chủng phải được theo dõi ít nhất 30 phút sau tiêm
Thông tư 13 cũng nêu rõ quy trình bảo đảm an toàn tiêm chủng. Trước khi tiêm, người được tiêm phải được khám sàng lọc theo hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế. Trong quá trình tiêm, cơ sở tiêm chủng phải thực hiện đúng chỉ định, sử dụng vắc xin, sinh phẩm theo hướng dẫn của nhà sản xuất và tuân thủ quy định an toàn tiêm chủng.
Sau tiêm, đối tượng tiêm chủng phải được theo dõi tại điểm tiêm ít nhất 30 phút. Đồng thời, cha mẹ, người giám hộ hoặc người được tiêm cần tiếp tục theo dõi tại nhà tối thiểu 24 giờ và thực hiện đầy đủ việc ghi chép thông tin tiêm chủng theo hướng dẫn chuyên môn.
Về xử lý trường hợp tai biến nặng xảy ra trong buổi tiêm chủng, theo hướng dẫn của Thông tư 13 là dừng ngay buổi tiêm để cấp cứu và đánh giá sơ bộ nguyên nhân. Nếu vượt quá khả năng chuyên môn, cơ sở tiêm chủng phải chuyển người gặp tai biến đến cơ sở khám, chữa bệnh phù hợp.
Thống kê đầy đủ thông tin liên quan đến trường hợp tai biến nặng theo hướng dẫn chuyên môn của Cục Phòng bệnh và báo cáo theo quy định. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tiếp nhận trường hợp tai biến nặng sau tiêm chủng phải tiến hành cấp cứu, điều trị và báo cáo.
Trường hợp tạm dừng sử dụng lô vắc xin, sinh phẩm. (Ảnh minh họa)
Thông tư cũng quy định việc tạm dừng sử dụng lô vắc xin, sinh phẩm trong trường hợp Hội đồng tư vấn chuyên môn đánh giá nguyên nhân tai biến nặng trong quá trình sử dụng vắc xin, sinh phẩm của tỉnh, thành phố đánh giá sơ bộ nguyên nhân dẫn đến tai biến nặng sau tiêm chủng do chất lượng vắc xin, sinh phẩm, người đứng đầu cơ quan chuyên môn về y tế thuộc UBND cấp tỉnh phải có văn bản quyết định tạm dừng sử dụng lô vắc xin, sinh phẩm đó trên địa bàn quản lý sau khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của Bộ Y tế.
Trường hợp Hội đồng kết luận tai biến nặng không liên quan đến chất lượng vắc xin, sinh phẩm, cơ quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh báo cáo Bộ Y tế và quyết định cho phép sử dụng trở lại sau khi được Bộ Y tế đồng ý bằng văn bản.
Thông tư 13/2026/TT-BYT có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Kể từ thời điểm này, các Thông tư 24/2018/TT-BYT, 34/2018/TT-BYT, 05/2020/TT-BYT và 52/2025/TT-BYT chính thức hết hiệu lực thi hành.
PV