Virus Nipah là một virus nguy hiểm hiếm gặp, có thể gây viêm não và viêm phổi nặng, với tỷ lệ tử vong cao nếu không được phát hiện và chăm sóc kịp thời.
Nguồn lây của virus Nipah
- Ổ chứa tự nhiên của virus Nipah là dơi ăn quả
- Virus có thể lây sang người:
- Qua thực phẩm hoặc đồ uống nhiễm virus
- Qua tiếp xúc gần với người bệnh (dịch tiết hô hấp)
Vì vậy, Nipah không chỉ là bệnh từ động vật, mà có thể lây từ người sang người.
Cơ chế gây bệnh của virus Nipah
Sau khi xâm nhập cơ thể qua đường hô hấp hoặc tiêu hóa, virus Nipah sẽ:
- Tấn công mạch máu và tế bào nội mô
- Gây viêm mạch hệ thống và vi huyết khối
- Tổn thương nặng ở:
+ Não dẫn đến viêm não
+ Phổi dẫn đến viêm phổi, phù phổi
Đây là lý do bệnh có thể diễn tiến nhanh và nặng.
Thời gian ủ bệnh trong khoảng 4-14 ngày.
Các dấu hiệu cần đi khám ngay
Sốt cao, đau đầu nhiều
Ho, khó thở
Buồn ngủ bất thường, rối loạn ý thức
Co giật hoặc thay đổi hành vi
Không chờ đợi khi có triệu chứng thần kinh hoặc hô hấp nặng.
Phòng bệnh do virus Nipah
Virus Nipah hiện chưa có vaccine phòng ngừa
Không ăn trái cây bị dơi cắn
Không uống nhựa cây hoặc nước ép không đảm bảo vệ sinh
Hạn chế tiếp xúc gần với người nghi nhiễm
Thực hành vệ sinh tay – đeo khẩu trang khi cần thiết
Do chưa có vaccine đặc hiệu để phòng ngừa virus Nipah nên phòng bệnh là yếu tố quan trọng nhất.
Nguồn tham khảo: WHO; CDC (USA); The Lancet Infectious Diseases; New England Journal of Medicine
Theo Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế đến ngày 26/01/2026, Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp mắc bệnh do virus Nipah. Bộ Y tế khẳng định sẽ tiếp tục theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh, phối hợp với WHO, các quốc gia trên thế giới để kịp thời chỉ đạo triển khai các biện pháp phòng, chống dịch phù hợp, hiệu quả.
Vius Nipah được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1999 tại Malaysia. Đến năm 2001, bệnh do virus Nipah được ghi nhận đầu tiên trên người tại Bangladesh và sau đó ghi nhận tại Ấn Độ. Bệnh do virus Nipah là bệnh truyền nhiễm nhóm A (Theo quyết định số 3644/QĐ-BYT ngày 25/11/2025 về việc bổ sung một số bệnh vào danh mục bệnh truyền nhiễm nhóm A, B của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm).
TS. BS. Nguyễn Hữu Châu Đức