Võ tướng trung kiên trong phong trào Cần Vương

Võ tướng trung kiên trong phong trào Cần Vương
5 giờ trướcBài gốc
Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia đền thờ Cao Bá Điển ở xã Hoằng Giang.
Cao Bá Điển sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Thân (1848), tại làng Trinh Sơn, xã Hoằng Giang trong gia đình nông dân nghèo. Ngay từ nhỏ, ông nổi tiếng thông minh, ham học hỏi, có ý chí lớn và tinh thần nghĩa hiệp. Trong bối cảnh đất nước phải đối mặt với dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, ông sớm bộc lộ tư chất của một người có tài thao lược và lòng yêu nước sâu sắc. Lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống lịch sử và văn hóa, Cao Bá Điển được hun đúc tinh thần kiên cường, ý chí vượt khó cùng trách nhiệm đối với quê hương. Những phẩm chất ấy đã trở thành nền tảng để ông bước vào con đường cống hiến cho dân tộc. Năm 1877 Cao Bá Điển “xếp bút nghiên” từ giã quê nhà đi lính triều đình. Vốn thể trạng sức khỏe hơn người, tư chất thông minh lại chăm chỉ rèn luyện, năm 1879 Cao Bá Điển đỗ cử nhân. Tổng đốc Thanh Hóa lúc bấy giờ là Tôn Thất Phan đã tiến cử ông với Đề đốc Trần Xuân Soạn. Tháng 6 năm Giáp Thân (1884) ông giữ chức Suất đội vệ Vũ lâm trong kinh thành Huế, về sau thăng lên Đề đốc. Trong cuộc tấn công kinh thành Huế do Tôn Thất Thuyết tổ chức, ông trực tiếp chỉ huy một cánh quân tiến đánh tòa Khâm sứ và đồn lính Pháp. Cuộc tấn công thất bại, vua Hàm Nghi rút khỏi Huế, Cao Bá Điển hộ tống nhà vua ra Tân Sở (Quảng Trị).
Sau khi vua Hàm Nghi ra chiếu Cần Vương (tháng 7 năm 1885), Cao Bá Điển cùng Trần Xuân Soạn được Tôn Thất Thuyết cử về Thanh Hóa tổ chức phong trào đấu tranh vũ trang. Tại quê nhà, với võ lược cùng uy tín, ông đã kêu gọi người dân Trinh Sơn và các làng lân cận tổ chức nghĩa quân khởi nghĩa hưởng ứng phong trào Cần Vương, trở thành một trong những người đầu tiên khởi dựng phong trào Cần Vương ở Thanh Hóa.
Cuối năm 1885, Tống Duy Tân dựng cờ khởi nghĩa ở làng Bồng Trung thuộc huyện Vĩnh Lộc (cũ). Với sự nhạy cảm và tầm nhìn quân sự của một võ quan, Cao Bá Điển đã đem lực lượng khởi nghĩa do ông chỉ huy sáp nhập với nghĩa quân Tống Duy Tân để hợp lực đánh Pháp. Ông sớm trở thành một trong những người khởi dựng và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa cùng với cử nhân Nguyễn Sự Chí, Lê Tánh, Phạm Lê Khải, Trịnh Văn Khôi... Cứ điểm đầu tiên của nghĩa quân được xây dựng ở hai làng Bồng Trung và Đa Bút, được Nhân dân ở các nơi nô nức tham gia. Dưới sự lãnh đạo của những lãnh tụ ưu tú, trong đó có Cao Bá Điển, căn cứ Bồng Trung - Đa Bút trở thành nơi hội tụ lực lượng chống Pháp của Nhân dân Thanh Hóa.
Từ đầu năm 1886, nghĩa quân Cao Bá Điển hợp lực với nghĩa quân Hùng Lĩnh do Tống Duy Tân chỉ huy đã đưa cuộc khởi nghĩa thực sự bước vào chặng đường đấu tranh oanh liệt nhất. Nghĩa quân Hùng Lĩnh tuy vẫn là một đội quân độc lập, vừa ra sức xây dựng lực lượng, củng cố cứ điểm, vận động quần chúng ủng hộ phong trào, vừa tổ chức các trận đánh riêng, đồng thời tiến hành liên hệ với nhiều cuộc khởi nghĩa khác trong tỉnh để cùng tập trung sức tấn công kẻ thù.
Theo tài liệu lịch sử, đêm 11 rạng sáng 12 tháng 3 năm 1886, đội quân Hùng Lĩnh do Cao Bá Điển chỉ huy đã phối hợp với nghĩa quân tại tỉnh lỵ Thanh Hóa đột nhập vào nội thành, từ trong đánh ra, gây cho địch thiệt hại nặng. Trong hai năm 1889, 1890, chiến thuật của nghĩa quân Hùng Lĩnh thể hiện rõ những nét độc đáo, táo bạo. Nghĩa quân thiên về cách đánh cơ động, tập kích bất ngờ, nhử địch vào những vị trí chuẩn bị chu đáo để tiêu diệt, hoặc phản kích quyết liệt khi bị địch vây đánh, liên tục di chuyển, tránh bị cô lập. Dưới sự chỉ huy của ông, nghĩa quân Hùng Lĩnh chiến đấu quả cảm, có những trận đã kết hợp lối đánh tập kích với nghi binh, phục kích, bao vây rất đặc sắc, điển hình là hai trận đánh trong tháng 3 năm 1890 ở huyện lỵ Nông Cống và cứ điểm Yên Lãng (Thọ Xuân).
Võ tướng Cao Bá Điển không chỉ là người giỏi dụng binh, ông còn được sử liệu nhắc đến với tài “ngụy vận” - được hiểu là vận động binh lính người Việt trong quân đội Pháp quay về nhằm chống lại chính sách dùng người Việt đánh người Việt của kẻ địch.
Lo sợ trước sức mạnh của các cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương ở xứ Thanh lúc bấy giờ, thực dân Pháp đã dồn lực tiêu diệt. Với lợi thế vũ khí cùng nhiều thủ đoạn, tháng 10 năm 1892 kẻ địch đã bắt giam thủ lĩnh Tống Duy Tân. Võ tướng Cao Bá Điển cũng bị giặc bắt khi đang trên đường từ Thanh Hóa ra Bắc Giang theo nghĩa quân của Hoàng Hoa Thám. Ngày 28 tháng 12 năm 1896, thực dân Pháp đã xử tử Cao Bá Điển tại Cầu Hạc (nay là phường Hạc Thành). Sau khi bị giặc Pháp sát hại, dân làng, dòng tộc họ Cao đã đưa thi hài ông về an táng tại quê hương và lập đền thờ tại làng Trinh Sơn (nay là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia đền thờ Cao Bá Điển).
Hơn 10 năm tận tâm, tận lực, cống hiến cả sinh mạng cho sự nghiệp chống Pháp, Đề đốc Cao Bá Điển đã trở thành biểu tượng khí phách anh hùng, lòng trung quân ái quốc và ý chí không khuất phục trước ngoại bang, được người đương thời và hậu thế tôn kính.
Bài và ảnh: Khắc Công
(Bài viết có sử dụng tài liệu trong lý lịch Di tích lịch sử đền thờ Cao Bá Điển, xã Hoằng Giang).
Nguồn Thanh Hóa : http://baothanhhoa.vn/vo-tuong-trung-kien-trong-phong-trao-can-vuong-288568.htm