Đêm không ồn như phố, cũng không tối đặc như rừng sâu.
Đêm miền Tây có tiếng nước. Có tiếng gió. Có tiếng côn trùng rì rầm như ai đang trò chuyện thiệt khẽ ngoài bờ mương.
Và có một thứ tiếng… không biết từ đâu mà tới, nhưng hễ nghe là lòng người tự nhiên chùng xuống: Tiếng vọng cổ.
Tiếng ca vừa cất lên, là y như con nước ròng bắt đầu lặng lẽ chảy.
Chậm thôi. Mà sâu. Không ào ạt, nhưng đi riết vô lòng.
Đất rộng quá, nên người cần một tiếng để neo lại
Miền Tây là xứ mở ra tới đâu cũng thấy mênh mông.
Sáng nhìn ra là đồng.
Chiều nhìn ra là sông.
Đêm nhìn ra là trời đầy sao.
Đất rộng vậy, nước nhiều vậy… nên con người đôi khi cũng dễ thấy mình lẻ loi.
Hồi xưa, người đi khai hoang về tới nhà, hai bàn tay còn mùi bùn phèn, vai áo còn vương cỏ lác.
Cơm chiều ăn vội. Đèn dầu thắp lên. Rồi ai đó vặn cái radio.
Tiếng đài vọng cổ mở ra như mở một cánh cửa.
Người ta không chỉ nghe ca, mà nghe cho bớt trống.
Đời khai hoang cực, nhưng cực không phải cái đáng sợ nhất. Đáng sợ nhất là cực mà không ai hiểu.
Và giữa mênh mông sông nước, một tiếng vọng cổ vọng qua cánh đồng đêm… là biết miền Tây vẫn còn đó, vẫn giữ giùm cho đời một thứ quý lắm: Tình và nghĩa.
Vọng cổ làm được cái chuyện đó: Nó không hỏi, không phán xét… nó chỉ ngân lên đúng chỗ đau, đúng chỗ thương, đúng chỗ mà con người hay giấu.
Tiếng vọng cổ đi theo nhịp nước, nhịp ruộng
Có cái hay của vọng cổ là: Nó không vội.
Nó rề rà, mà rề rà kiểu thiệt tình.
Nó kéo dài, mà kéo dài kiểu để người ta kịp thở, kịp nhớ, kịp thương.
Nghe vọng cổ, tự nhiên thấy nhịp tim mình chậm lại.
Miền Tây sống theo con nước.
Nước lớn thì đi. Nước ròng thì nghỉ.
Trời mưa thì chờ. Nắng lên thì làm.
Vọng cổ cũng vậy. Nó giống như tiếng mái chèo khua nước lúc chiều buông: Mỗi nhịp chèo là một nhịp lòng.
Người miền Tây nghe vọng cổ không phải để “bắt kịp”, mà để được đi cùng. Đi cùng một câu chuyện, đi cùng một nỗi niềm, đi cùng một kiếp người trong tuồng tích.
"Người miền Tây nghe vọng cổ không phải để “bắt kịp”, mà để được đi cùng. Đi cùng một câu chuyện, đi cùng một nỗi niềm, đi cùng một kiếp người trong tuồng tích."
Tuồng tích xa xưa, nhưng chuyện lòng thì chưa bao giờ cũ
Có người hỏi: “Sao miền Tây thích coi mấy tuồng tích vua quan, công chúa hoàng tử, chuyện xưa chuyện cũ hoài vậy?”.
Thiệt ra, người miền Tây đâu có mê ngai vàng. Họ mê cái chữ nghĩa trong đó.
Tuồng tích kể chuyện xa xưa, nhưng trong đó có những điều đời nào cũng cần: Chữ hiếu của người làm con, chữ nghĩa của tình làng xóm, chữ tình của vợ chồng, chữ tín của bạn bè và cái đau của phận người khi lỡ bước.
Người miền Tây coi tuồng không phải để nhớ chuyện triều đình. Mà để nhớ đạo làm người.
Hoa xuân xuống chợ ở miền Tây. Ảnh: HỒNG THÁI
Trong đời, đôi khi người ta cãi nhau một chuyện nhỏ. Nhưng nhìn rộng ra, cái làm người ta xa nhau thường là vì quên: “Sống phải có trước có sau”, “Ăn ở sao cho đặng”, “Đừng phụ nhau”. Cải lương, vọng cổ là cái cách mà miền Tây nhắc nhau mấy điều đó… bằng tiếng hát.
Không rao giảng. Không lên lớp. Chỉ ca thôi, mà nghe ra trăm thứ lẽ đời.
Vọng cổ - nơi phận người được lên tiếng
Miền Tây có nhiều phận.
Phận làm ruộng, chạy theo mùa.
Phận làm vườn, lo sâu bệnh.
Phận đi ghe, dầm sương dãi nắng.
Phận nghèo, muốn ngoi lên cũng khó.
Nên trong lòng người miền Tây có một thứ rất rõ: Nỗi phận.
Mà nỗi phận, nếu không có chỗ để thở, nó thành nỗi buồn.
Vọng cổ giống như một cái bến
Ai mỏi thì ghé. Ai đau thì đậu.
Nhân vật trong tuồng tích thường là người chịu oan, chịu thiệt.
Họ không cãi được, chỉ biết ca. Mà lạ lắm, càng ca, càng đúng tim người nghe.
Có khi mình nghe một câu vọng cổ mà thấy như đang nghe chính mình. Mình cũng từng ráng chịu, ráng thương, ráng nhịn, ráng gồng… rồi tới lúc mệt quá, chỉ mong có ai đó nói giùm một câu. Vọng cổ nói giùm. Nó nói bằng cách ngân dài, một chữ mà kéo theo cả đời người.
Cải lương - trường học của những người không có bảng đen phấn trắng
Hồi trước, vùng mới khai hoang, trường lớp ít lắm.
Nhưng người miền Tây lại có một kiểu học đặc biệt: Học bằng tuồng.
Nghe tuồng để biết làm con sao cho hiếu.
Nghe tuồng để biết làm người sao cho nghĩa.
Nghe tuồng để biết thương mà đừng phụ.
Nhiều ông bà dạy con cháu không cần giảng nhiều.
Chỉ cần nói nhỏ: “Coi đó mà ráng sống đàng hoàng”, “Đừng như cái thằng bội bạc đó nghen”, “Làm người phải có hậu”.
Vậy đó. Có những bài học đạo lý đi vô lòng… nhẹ như gió đồng.
Không phải bằng chữ. Mà bằng tiếng đàn, tiếng trống, tiếng ca.
Tiếng vọng cổ là tiếng của phù sa
Nghe vọng cổ, có khi người ta nghe ra cả mùi quê.
Mùi khói bếp.
Mùi rơm mới.
Mùi bùn non sau cơn mưa.
Mùi lá dừa khô cháy xèo xèo.
Và cái gió từ con sông thổi vô, mát rượi.
Vọng cổ sinh ra từ đất này, nên nó mang cái hồn của đất này.
Nó không sáng loáng.
Nó không hào nhoáng.
Nó mộc. Mộc như cây tràm mọc trên đất phèn. Mộc như con người đi khai hoang: ít nói, mà nặng tình.
Tiếng ca để người ta còn thương nhau
Đêm miền Tây đôi khi buồn.
Nhưng có tiếng vọng cổ, cái buồn đó không làm người ta gục.
Nó làm người ta mềm lại.
Mềm để nhớ chuyện xưa, thương người cũ.
Mềm để bớt gắt với nhau.
Mềm để thấy mình vẫn còn biết rung động, vẫn còn biết xót xa.
Vì thiệt ra, người miền Tây đâu có mê bi lụy. Họ chỉ mê cái thứ rất người: Mê một tiếng ca để lòng mình còn biết thương.
Và giữa mênh mông sông nước, một tiếng vọng cổ vọng qua cánh đồng đêm… là biết miền Tây vẫn còn đó, vẫn giữ giùm cho đời một thứ quý lắm: Tình và nghĩa.
LÊ MINH HOAN