Sự việc đã nhiều lần được cơ quan chức năng xác minh
Theo hồ sơ, ông Đ.N.B (ngụ phường Hiệp Bình Chánh) đứng tên 4 thửa đất thửa 263, 264, 265 và 267, tờ bản đồ 02, diện tích 9.216m2 (đất trồng lúa) tại phường Phú Hữu, quận 9 (cũ). Ông B cũng là chủ sở hữu DNTN mang tên mình.
Ngày 1/6/2010, ông B và Hoàng ký hợp đồng mua bán 4 thửa đất giá 58 tỷ. Việc thanh toán chia làm 3 đợt. Ông Hoàng đã trả đợt 1 là 3 tỷ. Theo hợp đồng, hai bên thống nhất chuyển DNTN đứng tên ông B thành Cty cổ phần (CP) để Hoàng thuận tiện xin giấy phép xây dựng chung cư; đồng thời, hỗ trợ thủ tục pháp lý 2.266m2 đất rạch xung quanh (chưa có sổ đỏ).
Thực hiện hợp đồng, hai bên ký hàng loạt giấy tờ hợp thức hóa chuyển đổi DNTN thành Cty CP và góp 4 thửa đất vào Cty CP. 4 thửa đất đã được chuyển thành tên Cty CP. Cty có cơ cấu CP như sau: Ông B góp 90 tỷ (89,11%), Hoàng 10 tỷ (9,9%), một người khác góp 1 tỷ (0,99%).
Theo cáo buộc, bị cáo sau đó sử dụng hồ sơ là hợp đồng chuyển nhượng 3,5 triệu CP từ ông B cho mình, biên bản cam kết nhận đủ 35 tỷ, biên bản họp cổ đông để chuyển cơ cấu CP của ông B xuống còn 45,45%, của mình tăng lên thành 53,72%.
Phát hiện sự việc, ông B tố cáo vì cho rằng Hoàng “giả chữ ký lừa đảo chiếm đoạt 3,5 triệu CP”. Ngày 28/3/2011, Công an quận 4 (cũ) ra quyết định không khởi tố vụ án vì chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Công an xác định hành vi giả mạo chữ ký trên hồ sơ để thay đổi tỉ lệ góp vốn trong Cty CP của Hoàng chưa xảy ra hậu quả (việc thay đổi tỉ lệ góp vốn của Cty hậu quả chỉ xảy ra khi chia lợi tức). Ngày 11/4/2011, VKSND quận 4 có kết luận xác định việc không khởi tố là có căn cứ.
Sau một thời gian, các cơ quan tố tụng thống nhất hủy các quyết định không khởi tố, chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT, Công an TP để giải quyết. Ngày 12/7/2013, VKSND TP có văn bản trả lời quan điểm xử lý. Theo đó, cơ quan giám định xác định chữ ký trên biên bản cam kết, hợp đồng chuyển nhượng CP, biên bản làm việc đề ngày 5/8/2010 là do ông B ký ra. Ông B cũng đã có văn bản đề nghị dừng cấp sổ đỏ cho Cty CP; đồng thời đề nghị Sở KH&ĐT (cũ, nay là Sở Tài chính) thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Do đó, không có căn cứ xác định Hoàng giả mạo chữ ký của ông B trong hợp đồng chuyển nhượng 3,5 triệu CP giá trị 35 tỷ để thay đổi tỷ lệ góp vốn nhằm chiếm đoạt đất của ông B. Ngày 19/7/2013, Công an TP ra Quyết định 410-01 không khởi tố vụ án.
Bảy năm sau, cơ quan điều tra (CQĐT) lại khởi tố vụ án “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” với sự việc. Theo CQĐT, Hoàng đưa ông B nhiều giấy tờ, trong đó ông B có ký vào hợp đồng chuyển nhượng CP, biên bản cam kết nhận đủ 35 tỷ, biên bản họp cổ đông nhưng không đọc và thực tế không nhận 32 tỷ.
Luật sư đề nghị định giá tài sản bị chiếm đoạt
Xử sơ thẩm, tòa cho rằng Hoàng “đã chiếm đoạt của bị hại 4 thửa đất qua việc chuyển đổi DNTN thành Cty CP”. Tội phạm hoàn thành tại thời điểm 4 thửa đất sang tên Cty CP. Quá trình điều tra, 4 thửa đất được trưng cầu giám định ngày 29/8/2024 nhưng đến nay chưa có kết quả định giá.
Tranh luận diễn ra khi các bên đặt vấn đề vì 4 thửa đất chưa được định giá; và yếu tố giá trị tài sản là bắt buộc phải có trong tội danh chiếm đoạt tài sản để định khung, định tội; thì căn cứ nào để xét xử bị cáo?
Tòa sơ thẩm đã lấy con số 32 tỷ để làm căn cứ xét xử. Bản án cho rằng “trị giá tài sản Hoàng đã chiếm đoạt của bị hại là số tiền 32 tỷ đồng bị hại ký (khống) đã nhận đủ nhưng thực tế là không có nhận”. Cấp sơ thẩm cho rằng “không cần chờ kết quả định giá, kéo dài thời gian giải quyết vụ án không cần thiết”. Tòa cho rằng con số 32 tỷ đồng “là định lượng trị giá tài sản bị hại bị chiếm đoạt để xác định trách nhiệm hình sự với bị cáo”.
Bào chữa cho bị cáo, Luật sư (LS) Huỳnh Phước Hiệp (Đoàn LS TP HCM) cho rằng, khi thành lập Cty CP có ghi vốn 101 tỷ nhưng thực tế các cổ đông chưa góp vốn. Theo Điều 80 Luật Doanh nghiệp 2005 thì con số 101 tỷ chỉ là vốn ảo, chưa phải tài sản thực của Cty, nên khó có thể lập luận chiếm đoạt “tài sản ảo” là tội phạm.
Ông B và bị cáo có thỏa thuận dùng 4 thửa đất góp vào Cty với giá 90 tỷ. Nhưng biên bản họp cổ đông thì chỉ có 2/3 cổ đông định giá và tiếp nhận tài sản là không phù hợp Điều 30 Luật Doanh nghiệp; giá 90 tỷ lại mâu thuẫn với giá mua bán 58 tỷ. “Giá nào mới là căn cứ để xác định số CP của ông B”, LS đặt vấn đề.
“Còn có một số vấn đề cần làm rõ như bản án sơ thẩm xác định có gian dối khi ký hợp đồng chuyển nhượng CP, nhưng lại xác định tài sản bị chiếm đoạt là đất. Bản án sơ thẩm cho rằng tội phạm hoàn thành khi 4 thửa đất đã sang tên cho Cty CP; nhưng việc này ông B xác định có dùng 4 thửa đất để góp vốn vào Cty và được cơ quan nhà nước chấp thuận. Từ xưa tới nay, quyền quyết định của ông B với 4 thửa đất không thay đổi thông qua số CP của ông B”, LS nêu quan điểm.
“Cần xác định rõ bị cáo Hoàng có hành vi chiếm đoạt hay không? Nếu có thì chiếm đoạt giá trị CP hay giá trị 4 thửa đất; và cần thiết phải có định giá”, LS Hiệp nói.
Phiên phúc thẩm mới đây đã được quyết định hoãn theo đề nghị của LS.
Bùi Yên