'Vũ khí luận' - Sự lạc hướng nguy hiểm - Bài 1: Vũ khí không thay thế được con người

'Vũ khí luận' - Sự lạc hướng nguy hiểm - Bài 1: Vũ khí không thay thế được con người
2 giờ trướcBài gốc
Vũ khí hiện đại là yếu tố quan trọng của sức mạnh quân sự, nhưng không bao giờ là nhân tố tự thân quyết định thắng lợi chiến tranh. Từ lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đến thực tiễn lịch sử Việt Nam và thế giới đều khẳng định: Con người, với bản lĩnh chính trị, ý chí chiến đấu, trí tuệ tổ chức và sức mạnh tinh thần, mới là chủ thể quyết định việc sử dụng, phát huy và chuyển hóa vũ khí thành sức mạnh chiến thắng.
Luận điệu cũ khoác áo công nghệ mới
Cùng với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, vũ khí chính xác cao, tác chiến mạng, tác chiến điện tử, phương tiện không người lái và các hệ thống chỉ huy - sát thương thông minh, chiến tranh hiện đại đang có những biến đổi sâu sắc. Không gian chiến tranh mở rộng từ mặt đất, trên không, trên biển, dưới biển đến không gian vũ trụ, không gian mạng và không gian nhận thức. Ranh giới giữa tiền tuyến và hậu phương, giữa quân sự và phi quân sự, giữa tác chiến trực tiếp và tác chiến phi tiếp xúc ngày càng mờ đi.
Hệ đào tạo Sau đại học (Học viện Chính trị) tổ chức Hội thi tuyên truyền về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Ảnh: THÀNH HẬU
Từ sự phát triển khách quan ấy, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng cổ xúy thuyết “vũ khí luận” tuyệt đối hóa vũ khí, công nghệ; coi con người chỉ là yếu tố phụ thuộc; cho rằng bên nào có vũ khí tối tân thì tất yếu chiến thắng. Từ đó, chúng rêu rao rằng đường lối chiến tranh nhân dân đã “lỗi thời”, quốc phòng toàn dân là “lạc hậu”, chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói tay”, và Việt Nam muốn bảo vệ Tổ quốc thì phải “chọn bên”, dựa vào sức mạnh quân sự nước lớn.
Bản chất của luận điệu ấy không phải là một tranh luận học thuật thuần túy về quân sự. Đó là thủ đoạn chính trị nhằm đánh vào nền tảng tư tưởng quốc phòng của Việt Nam; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh; làm phai nhạt niềm tin vào sức mạnh nhân dân; chia rẽ Quân đội với nhân dân; hạ thấp giá trị truyền thống chiến tranh nhân dân Việt Nam.
Cần khẳng định rõ rằng không ai phủ nhận vai trò ngày càng lớn của vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại. Chủ nghĩa Mác - Lênin từ rất sớm đã chỉ ra tác động mạnh mẽ của kỹ thuật đối với phương thức tác chiến. Ph.Ăngghen từng phân tích rằng, tiến bộ kỹ thuật khi được áp dụng vào quân sự sẽ tạo ra những thay đổi, thậm chí đảo lộn trong phương thức tác chiến. Nhưng từ việc thừa nhận vai trò của kỹ thuật đến việc tuyệt đối hóa vũ khí là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Một bên là nhận thức khoa học, bên kia là sự phiến diện, siêu hình và nguy hiểm.
Vũ khí dù hiện đại đến đâu cũng không tự sinh ra mục tiêu chiến tranh, không tự xác lập chính nghĩa, không tự tổ chức lực lượng, không tự tạo nên bản lĩnh, ý chí và trí tuệ chiến đấu. Vũ khí chỉ là công cụ. Con người mới là chủ thể. Vũ khí chỉ phát huy giá trị khi nắm trong tay những con người có bản lĩnh, có trình độ, có tổ chức, có nghệ thuật sử dụng và có mục tiêu chiến đấu chính nghĩa.
Lý luận cách mạng bác bỏ sự tuyệt đối hóa vũ khí
Chủ nghĩa Mác - Lênin nhìn nhận chiến tranh như một hiện tượng chính trị - xã hội đặc biệt, gắn với lợi ích giai cấp, dân tộc, nhà nước và tương quan sức mạnh tổng hợp giữa các bên tham chiến. Trong đó, con người không chỉ là lực lượng trực tiếp cầm súng, mà còn là chủ thể sáng tạo ra vũ khí, tổ chức chiến tranh, duy trì hậu phương, huy động tiềm lực và quyết định ý chí chính trị của cuộc chiến.
Cán bộ, giảng viên Khoa Triết học Mác - Lênin, Học viện Chính trị thường xuyên duy trì chế độ nghiên cứu, học tập, trao đổi kinh nghiệm trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Ảnh: THÀNH HẬU
V.I.Lênin từng nhấn mạnh, trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường. Câu nói ấy không phủ nhận vũ khí, càng không cổ vũ lối đánh duy ý chí, xem nhẹ vũ khí trang bị. Trái lại, Lênin cũng chỉ rõ, một đội quân dù trung thành và dũng cảm đến đâu cũng có thể bị tiêu diệt nếu không được vũ trang, huấn luyện, tổ chức và bảo đảm đầy đủ. Như vậy, lý luận cách mạng đặt con người và vũ khí trong quan hệ biện chứng: Vũ khí là điều kiện vật chất quan trọng, con người là nhân tố quyết định việc biến điều kiện ấy thành sức mạnh chiến đấu.
Tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa sâu sắc quan điểm đó và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Người khẳng định: “Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”. Tư tưởng “người trước, súng sau” không có nghĩa là coi nhẹ súng đạn, mà nhấn mạnh thứ tự ưu tiên trong xây dựng sức mạnh quân sự cách mạng, là trước hết phải xây dựng con người, xây dựng chính trị, xây dựng ý chí, xây dựng tổ chức. Chỉ có thể trên nền tảng ấy mới có thể làm chủ vũ khí, phát huy hiệu quả vũ khí.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Vũ khí tốt mà tinh thần hèn, thì cũng vô dụng”. Đây là một chân lý quân sự giản dị mà sâu sắc. Một Quân đội được trang bị hiện đại nhưng mất phương hướng chính trị, thiếu chính nghĩa, suy giảm ý chí, rệu rã tổ chức, xa rời nhân dân thì không thể là quân đội mạnh. Ngược lại, một Quân đội có lý tưởng chiến đấu cao đẹp, gắn bó máu thịt với nhân dân, biết tổ chức lực lượng, biết phát huy sáng tạo, biết tận dụng và cải tiến phương tiện hiện có, thì có thể chuyển yếu thành mạnh, lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi khái quát tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh: “Vũ khí là cần, nhưng quan trọng hơn là con người vác súng”. Đây là tư tưởng xuyên suốt trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam: Xây dựng con người chính trị trước, xây dựng tổ chức vững mạnh trước, đồng thời từng bước hiện đại hóa vũ khí trang bị, phát triển nghệ thuật quân sự, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Vì vậy, thuyết “vũ khí luận” sai không phải vì nó nói đến vai trò của vũ khí, mà vì nó cắt rời vũ khí khỏi con người, khỏi chính trị, khỏi xã hội, khỏi nhân dân, khỏi mục tiêu chiến tranh và nghệ thuật quân sự. Đó là cách nhìn cơ giới phi biện chứng và phi lịch sử.
Con người làm nên sức mạnh chiến thắng
Lịch sử Việt Nam là lịch sử của một dân tộc nhiều lần phải đương đầu với những thế lực xâm lược có tiềm lực vật chất, quân số, vũ khí vượt trội. Nếu chỉ lấy vũ khí làm thước đo, thì dân tộc ta khó có thể chiến thắng trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Nhưng lịch sử đã chứng minh, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam nhiều lần đánh bại kẻ thù mạnh hơn về vật chất bằng sức mạnh tổng hợp của con người, của nhân dân, của chính nghĩa và nghệ thuật quân sự sáng tạo.
Từ Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền, quân dân Đại Việt đã biết dựa vào địa hình, lòng dân, trí tuệ tổ chức và nghệ thuật tạo thế để đánh bại đạo quân mạnh hơn. Thời Trần, trước đội quân Nguyên-Mông từng tung hoành Á - Âu, sức mạnh “vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức” trở thành nền tảng quyết định thắng lợi. Kế sách “thanh dã”, nghệ thuật nghi binh, phục kích, phản công chiến lược đều cho thấy vũ khí không phải là yếu tố tự thân quyết định, chính con người biết tổ chức và sử dụng điều kiện cụ thể mới làm nên chiến thắng.
Trong thế kỷ XX, chiến tranh cách mạng Việt Nam càng chứng minh hùng hồn chân lý ấy. Thực dân Pháp có ưu thế về quân đội nhà nghề, hỏa lực, phương tiện cơ giới và sự hậu thuẫn quốc tế. Đế quốc Mỹ có nền công nghiệp quân sự hiện đại bậc nhất thế giới, sở hữu không quân, hải quân, bom đạn, công nghệ chiến tranh và hệ thống hậu cần khổng lồ. Nhưng cả hai đều thất bại trước một dân tộc biết phát huy sức mạnh toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào chính nghĩa, vào ý chí độc lập tự do, vào đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn.
Điện Biên Phủ năm 1954 là minh chứng điển hình. Thắng lợi ấy không chỉ là thắng lợi của pháo binh, công binh, bộ binh, hậu cần, mà trước hết là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, của ý chí “quyết chiến, quyết thắng”, của hàng chục vạn bộ đội và dân công hỏa tuyến, của nghệ thuật chuyển phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Nếu tuyệt đối hóa vũ khí, không thể giải thích được vì sao một quân đội non trẻ, trang bị còn hạn chế lại đánh bại tập đoàn cứ điểm được Pháp và Mỹ coi là “pháo đài bất khả xâm phạm”.
Điện Biên Phủ trên không năm 1972 cũng vậy. B-52 là biểu tượng của sức mạnh không quân chiến lược Mỹ. Nhưng trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng, sức mạnh ấy đã bị khuất phục bởi bản lĩnh, trí tuệ, ý chí và nghệ thuật tác chiến phòng không nhân dân Việt Nam. Vũ khí phòng không của ta phát huy hiệu quả không chỉ vì bản thân khí tài, mà vì có con người làm chủ khí tài, nghiên cứu cách đánh, phát hiện quy luật hoạt động của địch, sáng tạo phương án tác chiến phù hợp.
Những kẻ cho rằng thắng lợi của Việt Nam chỉ do “may mắn” hoặc “nhờ viện trợ vũ khí” là cố tình bóp méo lịch sử. Sự giúp đỡ quốc tế là quý báu, nhưng không thể thay thế vai trò quyết định của đường lối cách mạng đúng đắn, của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, của nghệ thuật quân sự Việt Nam và của con người Việt Nam. Không có con người biết tiếp nhận, cải tiến, sử dụng, bảo quản, hiệp đồng, sáng tạo cách đánh, thì vũ khí dù được viện trợ cũng chỉ là vật chất vô tri.
Thực tiễn thế giới hiện nay cũng không đứng về phía “vũ khí luận”. Các cuộc xung đột gần đây cho thấy vũ khí công nghệ cao có thể tạo ưu thế lớn, nhưng không tự động bảo đảm thắng lợi nhanh chóng. Chiến tranh hiện đại vẫn đòi hỏi ý chí chính trị, năng lực tổ chức xã hội, sức chịu đựng của hậu phương, trình độ chỉ huy, bản lĩnh người lính, năng lực thích ứng chiến trường và khả năng huy động tổng lực quốc gia. Những quân đội mạnh nhất thế giới hiện nay không chỉ hiện đại hóa vũ khí, mà còn cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng nhân lực, xây dựng lực lượng tinh nhuệ, phát triển năng lực tác chiến liên hợp. Nghị quyết số 05-NQ/TW về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021-2030 cũng đặt yêu cầu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, hiện đại, không phải giản đơn là giảm quân số để mua vũ khí, mà là nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu và khả năng đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Do đó, phản bác thuyết “vũ khí luận” không có nghĩa là phủ nhận hiện đại hóa vũ khí. Ngược lại, càng coi trọng vai trò quyết định của con người thì càng phải chăm lo xây dựng con người đủ bản lĩnh, trí tuệ, trình độ để làm chủ vũ khí hiện đại. Con người quyết định không phải bằng ý chí suông, mà bằng tri thức, tổ chức, kỷ luật, khoa học, nghệ thuật quân sự và sức mạnh chính trị - tinh thần.
Vì thế, vũ khí hiện đại có thể làm thay đổi hình thái chiến tranh, nhưng không thể thay thế con người. Mọi luận điệu tuyệt đối hóa vũ khí, phủ nhận con người, phủ nhận chiến tranh nhân dân đều là sai trái về lý luận, phản lịch sử về thực tiễn và nguy hiểm về chính trị.
(còn nữa)
Đại tá, PGS, TS NGUYỄN THANH HÀ; Đại tá, PGS, TS VŨ THANH TÙNG; Thượng tá, ThS NGUYỄN XUÂN KHÁNH (Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng)
Nguồn QĐND : https://www.qdnd.vn/cuoc-thi-bao-chi-bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-trong-tinh-hinh-moi/vu-khi-luan-su-lac-huong-nguy-hiem-bai-1-vu-khi-khong-thay-the-duoc-con-nguoi-1039186