Vụ kiện thuế ở Tòa án Tối cao Mỹ: Đã đến lúc làm rõ nội hàm của 'tình trạng khẩn cấp'

Vụ kiện thuế ở Tòa án Tối cao Mỹ: Đã đến lúc làm rõ nội hàm của 'tình trạng khẩn cấp'
2 giờ trướcBài gốc
Trong nhiều thập niên, các tòa án Mỹ thường mặc nhiên tin tưởng đánh giá của tổng thống về việc điều gì cấu thành một “tình trạng khẩn cấp”. Truyền thống này đã ăn sâu đến mức trong nhiều vụ kiện, nguyên đơn thậm chí không đặt vấn đề liệu tình trạng khẩn cấp đó có thực sự tồn tại hay không. Thế nhưng trong nhiều năm qua, không chỉ riêng ông Donald Trump mà các đời tổng thống Mỹ khác cũng đã tuyên bố những “tình trạng khẩn cấp” đáng nghi ngờ.
Những “tình trạng khẩn cấp” mà ông Donald Trump viện dẫn để biện minh cho quyền áp thuế là ví dụ điển hình. Đạo luật Quyền hạn kinh tế khẩn cấp quốc tế (IEEPA) - cơ sở pháp lý mà Tổng thống Mỹ viện dẫn, quy định rằng “quyền lực khẩn cấp” chỉ được kích hoạt khi tồn tại “mối đe dọa bất thường và phi thường” đối với lợi ích quốc gia. Ông Donald Trump lập luận rằng thâm hụt thương mại của Mỹ chính là một tình trạng khẩn cấp. Nhưng vấn đề là: nó không phải tình trạng “bất thường” cũng chẳng “phi thường”.
Tòa án Tối cao Mỹ. Ảnh: Alamy Photo
Thâm hụt 50 năm có nên gọi là “bất thường” hay “khẩn cấp”?
Nước Mỹ đã thâm hụt thương mại liên tục từ giữa thập niên 1970. Người ta có thể tranh luận liệu đó có phải là vấn đề cần giải quyết hay không, một số nhà kinh tế cho rằng có, đa số cho rằng không. Nhưng không bàn đến việc đó có phải là vấn đề với nền kinh tế Mỹ, với lịch sử kéo dài như vậy, rõ ràng tình trạng thâm hụt thương mại không phải kiểu vấn đề cần hành động khẩn cấp. Quốc hội và tổng thống đã có quá đủ thời gian để thảo luận và xây dựng chính sách, ít nhất là 50 năm.
Ông Donald Trump tiến gần hơn tới một lập luận “khẩn cấp” khi viện dẫn tình trạng buôn lậu fentanyl vào Mỹ. Tuy nhiên, phần lớn fentanyl vào Mỹ chỉ đến từ một vài quốc gia. Ngay cả khi coi luật pháp đồng ý coi fentanyl là một cuộc khủng hoảng, thì cũng khó có thể biện minh cho việc Mỹ áp thuế cao lên hầu như mọi mặt hàng từ gần như mọi quốc gia trên thế giới, điều mà ông Donald Trump đã làm khi sử dụng quyền lực khẩn cấp này.
Phán quyết của tòa án và giới hạn quyền lực
Dù ngầm chấp nhận tính hợp lệ của những “tình trạng khẩn cấp” mà ông Donald Trump nêu ra, Tòa án Tối cao Mỹ vẫn phán quyết rằng quyền lực khẩn cấp theo IEEPA không bao gồm quyền áp thuế.
Đạo luật này không hề có các từ như “tariff” (thuế quan) hay “levy” (đánh thuế). Nó chỉ đề cập đến quyền “điều chỉnh hoạt động nhập khẩu”, điều có thể được diễn giải rộng để bao gồm cả thuế quan. Nhưng Chánh án John Roberts nhấn mạnh rằng tòa án từ lâu đã “do dự khi suy diễn từ các điều khoản mơ hồ của luật pháp những sự ủy quyền đặc biệt từ Quốc hội”, trong trường hợp này là quyền áp thuế.
Năm 2023, Tòa án Tối cao đã dùng logic tương tự khi bác bỏ nỗ lực của Tổng thống Joe Biden nhằm xóa 430 tỷ USD nợ vay sinh viên. Ông Biden khi đó viện dẫn một đạo luật cho phép tổng thống “miễn trừ hoặc điều chỉnh” các quy định về khoản vay sinh viên trong thời chiến hoặc “tình trạng khẩn cấp” quốc gia. Theo ông, đại dịch Covid-19 chính là “tình trạng khẩn cấp” đó. Tòa án phản bác rằng quyền “miễn trừ hoặc điều chỉnh” không đồng nghĩa với quyền xóa nợ.
Một lần nữa, tòa án không đặt câu hỏi liệu “tình trạng khẩn cấp” có thực sự tồn tại hay không. Vào tháng 3/2020, khi Tổng thống Donald Trump tuyên bố đại dịch là “tình trạng khẩn cấp” quốc gia, điều đó có vẻ hợp lý. Nhưng đến tháng 8/2022, nó còn là khẩn cấp hay không? Có thể, nhưng đây chính là vấn đề: nhiều “tình trạng khẩn cấp” dường như không bao giờ kết thúc.
Theo một thống kê, trong 91 “tình trạng khẩn cấp” quốc gia được tuyên bố kể từ năm 1976, 50 vẫn còn hiệu lực. Các nhà phê bình vì thế cho rằng nước Mỹ đang sống trong một “trạng thái khẩn cấp vĩnh viễn”.
Có thực sự khẩn cấp?
Theo nghĩa thông thường của ngôn ngữ, tổng thống chỉ có “quyền lực khẩn cấp” khi - và chỉ khi - một vấn đề đòi hỏi hành động ngay lập tức, cấp bách đến mức không thể chờ Quốc hội họp và thảo luận. Nhưng trên thực tế, điều đó hiếm khi xảy ra.
“Quyền lực khẩn cấp” ngày càng trở thành cách cơ quan hành pháp trong hệ thống của Mỹ giành quyền lập pháp từ Quốc hội, ngay cả khi trường hợp “khẩn cấp” đó không hề cấp bách. “Khủng hoảng thâm hụt thương mại” mà Nhà Trắng sử dụng để áp thuế lên các nước là ví dụ kinh điển.
Trong vụ thuế quan này cũng như một số vụ từ thời chính quyền Biden, tòa án đã nhấn mạnh điều họ gọi là “Major Questions doctrine” - học thuyết về các vấn đề lớn. Theo đó, tổng thống chỉ có thể thực thi một quyền lực quan trọng vốn thuộc về Quốc hội nếu Quốc hội ủy quyền rõ ràng và cụ thể.
Trong ý kiến đồng thuận của mình, Thẩm phán Neil Gorsuch, người được ông Donald Trump bổ nhiệm, nhấn mạnh rằng học thuyết này không phải chống lại nhà nước hành chính, mà là ủng hộ quyền lực đại diện. Ông viết: “Làm luật có thể khó khăn và tốn thời gian. Và khi một vấn đề cấp bách xuất hiện, việc bỏ qua Quốc hội có thể rất cám dỗ. Nhưng bản chất cân nhắc và thận trọng của cả một quy trình lập pháp chính là mục đích của thiết kế đó. Thông qua quá trình ấy, quốc gia có thể khai thác trí tuệ tập thể của các đại diện dân cử, chứ không phải chỉ ý chí của một phe phái hay một cá nhân”.
Những lời này chắc chắn sẽ còn được các học giả và chính khách Mỹ tranh luận trong nhiều năm. Nhưng các nhà phân tích gợi ý rằng, nếu Quốc hội thực sự muốn có sự cân bằng quyền lực trong hệ thống, giống như điều mà Thẩm phán Gorsuch đã chỉ ra, thì tại sao không thay thế Đạo luật Khẩn cấp quốc gia năm 1976 bằng một đạo luật có răng, có vuốt hơn?
Nếu làm vậy, trong tương lai, Tòa án Tối cao có thể dựa vào một định nghĩa chắc chắn, một nội hàm cụ thể của “tình trạng khẩn cấp” để phân biệt giữa khủng hoảng thật sự và những cái cớ chính trị được gắn nhãn “khẩn cấp”.
Quốc Đạt
Nguồn Đại Biểu Nhân Dân : https://daibieunhandan.vn/vu-kien-thue-o-toa-an-toi-cao-my-da-den-luc-lam-ro-noi-ham-cua-tinh-trang-khan-cap-10408964.html