Vua Lê Thánh Tông và việc chăm lo đời sống Nhân dân

Vua Lê Thánh Tông và việc chăm lo đời sống Nhân dân
2 giờ trướcBài gốc
Lăng mộ vua Lê Thánh Tông ở Khu Di tích lịch sử Lam Kinh.
Vua húy là Lê Tư Thành - con trai thứ 4 của vua Lê Thái Tông và Quang Thục Hoàng hậu Ngô Thị Ngọc Dao. Ngay từ khi lên ngôi, ông chỉ nhận mình là Thiên Nam động chủ mà không xưng hoàng đế. Ông nói: “Trẫm chưa dám nói đến danh hiệu hoàng đế, đối với các khanh, trẫm xưng là hoàng thượng; đối với thái miếu, trẫm xưng là tự hoàng, như thế cũng đủ khác với các thân vương khác rồi”.
Sử Việt - 12 khúc tráng ca đã ghi rằng, vua là đại diện của sự ấm no và an lành, của thái bình và thịnh trị. Nhắc đến Lê Thánh Tông là nhắc đến một dòng suối mát phủ lấy trang sử xanh của dân tộc. Chính vì luôn lo lắng cải thiện đời sống Nhân dân mà ông còn được Nhân dân gọi là vua Thánh. Noi gương các bậc tiên đế, ông đã dùng nhiều chính sách, biện pháp để thúc đẩy kinh tế nông nghiệp, là ngành kinh tế chủ đạo của nước ta thời ấy. Nửa năm sau khi lên ngôi, mùa xuân năm Quang Thuận thứ 2 (1461) Lê Thánh Tông đã đề ra sắc chỉ: Từ nay về sau, trong nông nghiệp, phải khuyến khích quân dân đều chăm chỉ nghề nghiệp sinh nhai, để đủ ăn mặc, không được bỏ gốc theo ngọn, hoặc kiếm chuyện buôn bán, làm trò du thủ du thực, người nào có ruộng đất mà không chăm cày cấy, thì quan cai trị trị tội.
Để thực hiện, vua cho đặt các quan chức để trông coi nông nghiệp như quan Khuyến nông; Hà đê sứ (trông coi đê điều các con sông lớn); Tằm tang sứ (trông coi việc trồng dâu nuôi tằm dệt vải); Điền mục sứ (trông coi việc chăn nuôi gia súc, gia cầm); Tĩnh mễ (trồng lúa); Ty chủng thái (trồng rau)... Các quan không làm tròn chức trách đều bị xử phạt. Sự việc Thừa tuyên xứ Bắc đạo Lê Công Khác để trong xứ có sâu bệnh phá lúa nhiều mà không có biện pháp giải quyết đã bị giáng chức (năm 1467) là một điển hình.
Xác định trách nhiệm của Nhà nước nhằm đảm bảo đời sống tối thiểu cho nhóm xã hội yếu thế, đối với dân chúng, vua Lê Thánh Tông chủ trương “kính thiên ái dân”. Đây là hai yếu tố luôn đi song hành với nhau và luôn được nhà vua đưa vào nghĩa vụ tự “tu thân, tề gia, trị quốc”. Điều này đã thúc đẩy ông đưa ra những chính sách tích cực trong cai trị, đáp ứng yêu cầu chính đáng của dân chúng. Nhằm khích lệ sản xuất nông nghiệp, mùa Xuân, tháng Giêng năm 1473, vua thân chinh cày ruộng tịch điền và đốc suất các quan cày, khiến dân chúng tích cực noi theo. Chính sách trọng nông đã thu hút, quy tụ Nhân dân bị ly tán đi các nơi trong thời kỳ chiến tranh nay kéo nhau trở về quê cha đất tổ sinh sống; lòng dân trăm họ được quy tụ về một mối. Để đảm bảo nước trong nông nghiệp, nhà vua đề ra việc đắp bờ ruộng để giữ nước, bảo đảm thủy canh (1484) và ra chỉ lệnh nếu kẻ nào phá bờ ruộng của người khác phải bị phạt tiền (năm 1481). Để xúc tiến việc khai hoang mở rộng diện tích canh tác, vua cho lập các sở đồn điền; đồng thời cho phép dân khai khẩn tự do để canh tác, tăng cường lương thực tiêu dùng và dự trữ. Ngoài ra vua luôn luôn đôn đốc các quan thường xuyên đến mọi nơi trong địa hạt của mình để xem xét, giải quyết tình hình. Nhờ đó, nông nghiệp nước ta thời vua Lê Thánh Tông đã có tiến bộ, đời sống Nhân dân ít bị đói kém.
Không chỉ trọng nông, nhà vua còn có quan điểm cách tân táo bạo và hành động đúng về mở mang giao lưu, khuyến khích thương nghiệp. Theo các sử liệu, ông đã chủ trương, trong dân gian hễ có dân là có chợ để lưu thông hàng hóa, mở đường giao dịch cho dân. Các xã chưa có chợ có thể lập thêm chợ mới. Những ngày họp chợ mới không được trùng với ngày họp chợ cũ hay trước ngày họp chợ cũ để tránh tình trạng tranh giành khách hàng của nhau.
Bên cạnh việc xúc tiến sản xuất và kinh doanh, vua Lê Thánh Tông rất chú trọng đến việc chữa bệnh và cứu tế cho dân. Vua cho đặt “Nhà tế sinh” để nuôi dưỡng, chữa bệnh cho người ốm đau, cho lập Ty Y, có các quan chức lo việc trị bệnh và thuốc men. Ông sắc chỉ cho quan sở tại, nếu có dịch bệnh ở địa hạt mình thì phải phát thuốc cho dân để trừ. Các quan địa phương phải thu nạp người quan quả (không vợ, không chồng), tàn phế không có người nuôi dưỡng để trợ cấp cho họ. Những người có bệnh hoặc chết nằm ở dọc đường, đình điếm, đền chùa thì quan sở tại phải thu dưỡng và giải quyết. Đối với toàn dân, những năm mất mùa do thiên tai, được miễn giảm thuế nông nghiệp, những năm đói kém được Nhà nước chẩn cấp một phần.
Năm 2016, bia Chiêu Lăng đã được công nhận là bảo vật quốc gia.
Bên cạnh đó, ông còn chú ý đến thuần phong mỹ tục của Nhân dân mà lập chức Tư lễ ở Lễ bộ để đôn đốc, theo dõi tình hình ở các địa phương, đồng thời ban 24 điều giáo huấn bằng thơ Nôm để Nhân dân ngâm đọc, làm theo luân thường đạo lý và đức cần kiệm. Trong đời làm vua, Lê Thánh Tông đã ban nhiều chỉ lệnh, như: chỉ lệnh để tang ma cha mẹ, vợ chồng; lệnh cấm sắc tửu, chỉ lệnh quy định con cháu thừa tự tổ tiên; chỉ lệnh đặt mồ mả... nhằm duy trì và chấn chỉnh trật tự xã hội, nếp sống tốt đẹp. Để truyền bá rộng rãi các chỉ định, luật lệ cho mọi quan lại biết mà thực hiện, vua đã cho làm Quảng Văn đình làm nơi treo các pháp lệnh trị dân.
Không chỉ ra luật lệ, vua còn luôn khen thưởng gương tốt và trách phạt những kẻ có hành vi xấu. Đặc biệt với quan điểm “Thương yêu dân là trách nhiệm của quan lại, mọi việc lợi nên làm cho dân, mọi mối hại nên bỏ”, các chỉ lệnh Chống tham nhũng trong tuyển lựa quan chức (1481); Cấm người gác cửa ở các sở quan nhận tiền vào cửa, Lệnh phải truy thu tiền thuế còn thiếu... được ban bố.
Lê Thánh Tông không phải là người đầu tiên đưa ra quan điểm “trăm quan là nguồn gốc của trị loạn” nhưng ông là người thấu hiểu sâu sắc nguyên lý cội rễ của quan điểm đó và vận dụng vào thực tiễn một cách sáng tạo và có hiệu quả tạo nên một bộ máy quan lại đủ đức, đủ tài giúp vua trị nước an dân. Đánh giá về vua Lê Thánh Tông, nhà sử học Ngô Sĩ Liên viết trong Đại việt Sử ký toàn thư: “Triệu dân vỗ yên, trăm việc chấn chỉnh, văn giáo rộng ban, vũ công đại định”.
Ngắm nhìn Văn bia Chiêu Lăng trên Gò Đình ở Lam Kinh với bài văn do Hàn lâm viện Đại học sĩ Quốc Tử giám là Thân Nhân Trung cùng Thượng thư bộ Lễ Đông Các đại học sĩ Đàm Văn Lễ và Lưu Hưng Hiếu soạn thảo, chúng ta phần nào hiểu về thân thế và sự nghiệp của vị vua anh minh. Cuộc đời ông đã được ca tụng trong hàng nghìn trang sử, trong đó có bài diễn ca Lịch sử nước ta, năm 1942, Hồ Chủ tịch đã viết “Vua hiền có Lê Thánh Tông...” và đến nay hậu thế vẫn luôn kính ngưỡng để tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu về ông.
Bài viết sử dụng tư liệu sách: Văn tài võ lược xứ Thanh (Trịnh Hoành, NXB Thanh Hóa, 2017); Sử Việt - 12 khúc tráng ca (Dũng Phan, NXB Hội Nhà văn, 2017) và một số tài liệu khác.
Bài và ảnh: Kiều Huyền
Nguồn Thanh Hóa : https://vhds.baothanhhoa.vn/vua-le-thanh-tong-nbsp-va-viec-cham-lo-doi-song-nhan-dan-41992.htm