Đền thờ Tiến sĩ Trần Bá Tân.
Về tổ dân phố Tân Cộng, phường Đông Sơn, chúng tôi đến tham quan đền thờ Tiến sĩ Trần Bá Tân - một tấm gương sáng về học tập, thi đỗ đạt, làm quan. Theo sử sách ghi lại: Tiến sĩ Trần Bá Tân quê ở An Hoạch (huyện Đông Sơn), nay là thôn Tân Cộng (phường Đông Sơn), là người học rộng, tài cao từng đỗ khoa Sĩ vọng và đến năm 27 tuổi đỗ Đệ Tam giáp đồng tiến sĩ, khoa Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 2 (1736), đời Lê Ý tông và được cử đi sứ nhà Thanh, làm quan đến chức Lại bộ thượng thư, tước hầu.
Sự đỗ đạt của Trần Bá Tân đã được triều đình phong kiến nhà Lê suy tôn và được liệt vào hàng các nhà khoa bảng Việt Nam xuất sắc. Tên tuổi của ông được khắc vào văn bia Quốc Tử Giám và các chức tước được phong tặng trong các sắc phong của triều đình là sự ghi nhận những cống hiến của ông. Do có nhiều công lao đóng góp cho triều đình và Nhân dân nên sau khi ông mất, hàng năm cứ vào ngày 3/12 là ngày giỗ chạp, dân làng lại làm lễ tế quan Quận tại đền và đình làng. Tuy nhiên, trải qua nhiều biến thiên của lịch sử, phong tục này ngày nay chỉ còn được duy trì tại dòng họ.
Đền thờ Tiến sĩ Trần Bá Tân được con em trong dòng họ Trần đóng góp xây dựng từ năm 2008. Theo ông Trần Bá Hoàn, con cháu trong dòng họ Trần và cũng là người trông coi ngôi đền từ khi xây dựng đến nay: Đền thờ Tiến sĩ Trần Bá Tân là một công trình kiến trúc hoàn chỉnh, gồm ba gian tiền đường bằng gỗ, đồ thờ tự gồm có ngựa, hạc, bạch xà hai bên, ba gian này thường dùng cho làng văn tế; hậu cung là ngôi nhà cuốn vòm bằng gạch bên trên được lợp ngói vẩy, phía trên treo chồng lên bức xuân hoa là bức đại tự có hai chữ phiên âm là “Sơn Đẩu” nghĩa là: Cao như núi Thái Sơn/ Sáng như sao Bắc Đẩu.
Từ khi xây dựng đến nay, đền thờ có vai trò rất quan trọng đối với con cháu trong dòng họ Trần, bởi đây là không gian văn hóa lưu giữ truyền thống gia đình, nhắc nhở thế hệ trẻ kính trọng tổ tiên, sống có trách nhiệm với dòng họ và phấn đấu vươn lên trong học hành, thi cử. Không chỉ vậy, đền thờ còn là nơi thu hút được người dân, học sinh ở địa phương đến đây để dâng hương, tìm hiểu về truyền thống lịch sử của thế hệ đi trước.
Theo thống kê, trên địa bàn phường Đông Sơn hiện nay có 14 di tích lịch sử - văn hóa đã được kiểm kê, xếp hạng trong đó có 4 di tích cấp quốc gia và 11 di tích cấp tỉnh, như: Di tích Địa điểm lịch sử và thắng cảnh Rừng Thông, Di tích lịch sử - văn hóa và kiến trúc nghệ thuật cụm bia ký đình Thượng Thọ, đền thờ Tiến sĩ Trần Bá Tân... Gắn liền với hệ thống di tích là nhiều lễ hội đặc sắc vẫn được người dân ở phường tổ chức hàng năm như: Lễ hội Đàn thờ Thần Long Uyên; Lễ hội Lê Hy; Lễ hội Đền Lê Ngọc; Lễ hội Đình Hàm Hạ...
Những năm qua, xác định hệ thống di tích và các lễ hội truyền thống có vai trò quan trọng trong việc lưu giữ và giáo dục truyền thống văn hóa, lòng yêu nước cho các thế hệ đi sau và cũng là nguồn tài nguyên vô giá thúc đẩy du lịch của địa phương phát triển, phường đã đặc biệt quan tâm đến việc trùng tu, tôn tạo di tích và phát huy giá trị của các lễ hội truyền thống. Chia sẻ về vấn đề này, bà Hoàng Thị Huyền, Trưởng Phòng Văn hóa - Xã hội, phường Đông Sơn, cho biết: "Các di tích trên địa bàn phường đã có từ lâu đời, gắn với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của cha ông, tuy nhiên trải qua thời gian do ảnh hưởng của thời tiết, môi trường nên khó tránh khỏi việc bị hư hỏng, mai một. Do đó, phường đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân trong việc gìn giữ, phát huy giá trị di tích; tích cực huy động xã hội hóa để tôn tạo, trùng tu di tích bảo đảm đúng mục đích, đầy đủ, kịp thời và tuân thủ theo đúng quy định pháp luật... Nhờ đó, đến nay có nhiều di tích đã được trùng tu, tôn tạo khang trang đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh của người dân, du khách.
Phường cũng xác định các lễ hội truyền thống mang đậm nét văn hóa của địa phương, có ý nghĩa cầu phúc, cầu tài, cầu lộc và tôn vinh các nhân vật lịch sử đã có công lao chống giặc ngoại xâm giữ gìn đất nước. Bởi vậy, hàng năm phường đều chủ động xây dựng kế hoạch, thành lập ban tổ chức và lên kịch bản để tổ chức các lễ hội theo hướng văn minh, tiết kiệm. Đối với các lễ hội gắn với di tích lịch sử văn hóa, phần lễ diễn ra trang trọng, đúng với lịch sử của di tích; phần hội được tổ chức với nhiều hoạt động văn nghệ, thể thao phong phú, tạo không khí vui tươi, sôi nổi. Qua đó, góp phần giáo dục truyền thống lịch sử cho thế hệ trẻ và thu hút đông đảo người dân, du khách thập phương đến tham dự.
Bài và ảnh: Nguyễn Đạt