WHO, CDC nói về virus Nipah: Ai có nguy cơ, nguy hiểm đến đâu?

WHO, CDC nói về virus Nipah: Ai có nguy cơ, nguy hiểm đến đâu?
6 giờ trướcBài gốc
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC) Mỹ, virus Nipah là một loại virus lây truyền từ động vật sang người, thuộc họ Paramyxoviridae, chi Henipavirus.
Dơi ăn quả (chi Pteropus) là vật chủ hàng đầu của loại virus này và chúng có thể truyền bệnh cho người hoặc các động vật khác, phổ biến nhất là heo. Loại dơi này có thể được tìm thấy khắp Đông Nam Á, Nam Thái Bình Dương và khu vực Úc.
Virus này lây sang người khi người đó tiếp xúc với động vật mang mầm bệnh hoặc dịch cơ thể của chúng. Khi đã mắc bệnh, người bệnh cũng có thể lây bệnh cho người khác.
Vì vậy, những người có nguy cơ cao mắc bệnh do virus Nipah bao gồm: Người làm việc với heo bị nhiễm bệnh, nhân viên y tế chăm sóc bệnh nhân mắc bệnh Nipah, người tiếp xúc với thức ăn hoặc đồ uống bị nhiễm bẩn từ động vật mang bệnh, người leo cây ở những nơi dơi bị nhiễm bệnh thường trú ngụ...
Một bệnh nhân được đưa đến khu cách ly dành cho người mắc bệnh do virus Nipah tại Bệnh viện Đại học Y khoa Kozhikode, bang Kerala - Ấn Độ trong đợt dịch năm 2023 - Ảnh: PTI
Về thời gian ủ bệnh, các triệu chứng thường xuất hiện trong vòng 4-14 ngày sau khi tiếp xúc với virus.
Tuy nhiên, số trường hợp nhiễm bệnh được ghi nhận nhiều tháng, thậm chí nhiều năm sau khi tiếp xúc. Những trường hợp này được gọi là nhiễm trùng tiềm ẩn hoặc không hoạt động.
Các triệu chứng phổ biến của bệnh do virus Nipah bao gồm: Sốt, đau đầu, ho, đau họng, khó thở, nôn mửa... nên có thể bị lầm lẫn với nhiều bệnh truyền nhiễm khác. Khi bệnh trở nặng, bệnh nhân có thể mất phương hướng, buồn ngủ liên tục hoặc lú lẫn, co giật, hôn mê...
Mặc dù hiếm gặp nhưng đây là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm với tỉ lệ tử vong lên đến 40%-75%, nên là một bệnh mà các cơ quan y tế khuyến nghị nên thận trọng. Bệnh này cũng chưa có vắc-xin hay thuốc điều trị đặc hiệu.
"Việc chẩn đoán sớm nhiễm virus Nipah có thể khó khăn do các triệu chứng ban đầu không đặc hiệu. Tuy nhiên, phát hiện sớm rất quan trọng để cải thiện cơ hội sống sót, ngăn ngừa lây truyền và kiểm soát dịch bệnh" - CDC cho biết.
Cơ quan này khuyến cáo nên xem xét khả năng nhiễm virus Nipah ở những người có các triệu chứng liên quan và đã từng đến những khu vực có virus này lưu hành.
Lịch sử bệnh do virus Nipah
Trong quá khứ, bệnh do virus Nipah chỉ xuất hiện dưới dạng các ổ dịch lẻ tẻ. Virus Nipah được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1999 trong một đợt bùng phát dịch bệnh ở các hộ chăn nuôi heo tại Malaysia, cũng ảnh hưởng đến Singapore.
Hầu hết các trường hợp nhiễm bệnh ở người trong đợt dịch này đều do tiếp xúc trực tiếp với heo bệnh hoặc thịt bị nhiễm bệnh của chúng. Không có đợt bùng phát dịch mới nào được báo cáo ở Malaysia cho đến nay.
Bệnh này cũng được phát hiện ở Bangladesh vào năm 2001, và gần như hàng năm đều xảy ra các đợt bùng phát ở nước này kể từ đó. Bệnh cũng được xác định định kỳ ở miền Đông Ấn Độ.
Trong các đợt bùng phát Bangladesh và Ấn Độ, việc tiêu thụ trái cây hoặc các sản phẩm từ trái cây (như nước ép chà là tươi) bị nhiễm nước tiểu hoặc nước bọt của dơi ăn quả bị nhiễm bệnh là nguồn lây nhiễm có khả năng nhất.
Các quốc gia khác được coi là vùng có nguy cơ - chưa phát hiện ca bệnh ở người, nhưng đã từng phát hiện dơi bị nhiễm bệnh - là Campuchia, Ghana, Indonesia, Madagascar, Philippines và Thái Lan.
Anh Thư
Nguồn NLĐ : https://nld.com.vn/who-cdc-noi-ve-virus-nipah-ai-co-nguy-co-nguy-hiem-den-dau-196260127092618264.htm