Xác lập đầy đủ nội hàm kinh tế nhà nước trong bối cảnh mới

Xác lập đầy đủ nội hàm kinh tế nhà nước trong bối cảnh mới
5 giờ trướcBài gốc
Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam của Bộ Chính trị đã diễn ra sáng 25/2 với sự tham dự của hơn 2 triệu đảng viên tại các điểm cầu.
Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham dự hội nghị sáng 25/2. Ảnh: Đức Thanh
Tại hội nghị, trình bày chuyên đề "Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước", Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị khẳng định, đây là bước đổi mới quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng.
Lần đầu tiên, nội hàm kinh tế nhà nước được xác định đầy đủ và có hệ thống như một chỉnh thể thống nhất, bao gồm toàn bộ các nguồn lực kinh tế do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối hoạt động, như đất đai, tài nguyên, vùng trời, vùng biển, không gian ngầm, hệ thống kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước, phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp công lập.
Đánh giá đầy đủ các nguồn lực kinh tế nhà nước theo nguyên tắc thị trường
Nhận định bối cảnh quốc tế và trong nước đang đặt ra những yêu cầu đổi mới tư duy về phát triển kinh tế nhà nước, tại Nghị quyết số 79-NQ/TW, Bộ Chính trị đã đề ra 5 nhóm quan điểm chỉ đạo mang tính hệ thống, bao trùm về phát triển kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới. Trong đó, có thể khái quát những điểm mới như sau:
Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị trình bày chuyên đề. Ảnh: Đức Thanh
Thứ nhất, đổi mới, bổ sung về cụ thể hóa nội hàm vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết đã kế thừa quan điểm của các nghị quyết, kết luận trước đây về việc kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế. Đồng thời, bổ sung, cụ thể hóa nội hàm vai trò chủ đạo trên các mặt như: định hướng chiến lược phát triển; giữ vững quốc phòng an ninh; góp phần phát huy giá trị văn hóa, tiến bộ, công bằng, an sinh xã hội; là nguồn lực quan trọng để Nhà nước chi phối, can thiệp kịp thời các yêu cầu đột xuất, cấp bách phát sinh.
Thứ hai, là xác định rõ mối quan hệ cùng phát triển giữa kinh tế nhà nước và các khu vực kinh tế khác, nhằm phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của từng khu vực. Nghị quyết đã làm rõ, bổ sung quan điểm: Kinh tế nhà nước cùng với các thành phần kinh tế trong nước xây dựng nền kinh tế tự chủ, tự lực, tự cường, bảo đảm an ninh kinh tế, thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả.
Thứ ba, là quan điểm về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực kinh tế nhà nước. Nghị quyết đề ra quan điểm về cơ chế phân bổ, quản lý, khai thác và sử dụng nguồn lực của kinh tế nhà nước, trong đó nhấn mạnh hai điểm mới mang tính đột phá.
Đó là các nguồn lực kinh tế nhà nước phải được rà soát, thống kê, đánh giá, hạch toán đầy đủ theo nguyên tắc thị trường; đánh giá tác động và phân tích lợi ích - chi phí xã hội của đầu tư nguồn lực vật chất của nhà nước theo thông lệ quốc tế.
Đồng thời, khơi thông các điểm nghẽn, giải phóng nguồn lực; quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, chống thất thoát, lãng phí các nguồn lực kinh tế nhà nước. Giải quyết tốt mối quan hệ nhà nước, thị trường, xã hội. Tách bạch việc sử dụng nguồn lực nhà nước trong cung cấp hàng hóa, dịch vụ công, thực hiện nhiệm vụ chính trị với các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng tham dự Hội nghị tại Hội trường Diên Hồng. Ảnh: Đức Thanh
Quan điểm thứ tư là nâng tầm nhiệm vụ của kinh tế nhà nước gắn với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng. Nghị quyết đã đề ra quan điểm: Kinh tế nhà nước phải tiên phong kiến tạo, dẫn dắt, mở đường thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quan điểm thứ năm là tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với kinh tế nhà nước, nhất là trong định hướng sử dụng nguồn lực và tổ chức thực hiện.
Về mục tiêu, tầm nhìn phát triển kinh tế nhà nước, Nghị quyết đề ra các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Trong đó, ở các mục tiêu cụ thể đến năm 2030 cần đạt đối với 6 thành tố của kinh tế nhà nước, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị lưu ý một số mục tiêu định lượng.
Cụ thể, về ngân sách, dự trữ quốc gia, tỷ lệ huy động nguồn ngân sách đạt khoảng 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP; nợ công không quá 60% GDP. Chi đầu tư phát triển khoảng 35 - 40% tổng chi ngân sách; chi thường xuyên khoảng 50 - 55% tổng chi ngân sách.
Về doanh nghiệp nhà nước, phấn đấu 50 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và có từ 1 đến 3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới. 100% doanh nghiệp quản trị hiện đại trên nền tảng số.
Thống kê đầy đủ tài nguyên khoáng sản để quản lý thống nhất, hiệu quả
Để thực hiện thành công các mục tiêu và tầm nhìn về phát triển kinh tế nhà nước nêu trên, Bộ Chính trị yêu cầu tập trung triển khai mạnh mẽ, thực chất các nhóm nhiệm vụ, giải pháp.
Các đại biểu tham dự Hội nghị. Ảnh: Đức Thanh
Giới thiệu khái quát 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chung và 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược trung ương cũng nhấn mạnh về một số nhiệm vụ, giải pháp mới và trọng tâm.
Theo đó, đối với đất đai và tài nguyên, ngay trong năm 2026, hoàn thiện công tác đo đạc, thống kê, số hóa, làm sạch dữ liệu đất đai trên toàn quốc, kết nối liên thông với các hệ thống dữ liệu quốc gia khác. Xây dựng, ban hành Luật Đất đai sửa đổi và các văn bản hướng dẫn nhằm tháo gỡ các vướng mắc, khơi thông nguồn lực từ đất đai.
Điều tra, thăm dò, thống kê đầy đủ các nguồn tài nguyên khoáng sản để thống nhất quản lý, sử dụng hiệu quả; có chính sách phù hợp để thúc đẩy việc tiếp cận, làm chủ công nghệ khai thác, chế biến sâu các loại khoáng sản, nhất là những loại khoáng sản chiến lược.
Có cơ chế quản lý tập trung liên ngành, bảo đảm khai thác hiệu quả, bền vững tài nguyên biển, đảo. Kinh tế biển phải trở thành một phần quan trọng trong kinh tế nhà nước.
Hoàn thiện cơ chế quản lý, khai thác, bảo vệ vùng trời. Ban hành cơ chế vượt trội và triển khai có khuôn khổ thử nghiệm có kiểm soát để thúc đẩy phát triển kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế không gian tầm thấp, công nghiệp hàng không vũ trụ.
Đẩy mạnh quy hoạch không gian ngầm tích hợp với quy hoạch đô thị, hạ tầng; khuyến khích huy động nguồn lực xã hội, hợp tác công - tư trong đầu tư, khai thác công trình ngầm.
Đối với ngân sách nhà nước, Nghị quyết số 79-NQ/TW yêu cầu trọng tâm điều hành là gắn với cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới. Nâng cao hiệu quả huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực ngân sách. Tăng cường phân cấp nguồn thu, phân cấp nhiệm vụ chi gắn với trách nhiệm theo từng cấp, bảo đảm nguyên tắc cấp nào thực hiện hiệu quả, kịp thời nhất thì giao cho cấp ngân sách đó…
Hoàn thiện pháp luật về tài nguyên số, tài nguyên viễn thông để quản lý phát triển thị trường dữ liệu, sàn giao dịch dữ liệu và kinh tế dữ liệu; đưa tài nguyên số và dữ liệu quốc gia thực sự trở thành nguồn lực chiến lược.
Đối với dự trữ quốc gia, Nghị quyết xác định dự trữ quốc gia thực sự trở thành nguồn lực dự trữ chiến lược gắn với quốc phòng, an ninh, an ninh kinh tế, an sinh xã hội và điều tiết, can thiệp thị trường. Đầu tư hệ thống hạ tầng dự trữ hiện đại. Khuyến khích doanh nghiệp tham gia một số hoạt động dự trữ quốc gia theo nguyên tắc thị trường.
Đối với vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước không nắm giữ chi phối, Nghị quyết yêu cầu chuyển giao vốn nhà nước cho doanh nghiệp có chức năng đầu tư kinh doanh vốn nhà nước hoặc doanh nghiệp nhà nước cùng ngành nghề để quản lý, đầu tư phát triển.
Đánh giá hiệu quả doanh nghiệp nhà nước theo tổng thể
Đối với doanh nghiệp nhà nước, đây là nội dung được chú trọng với 17 nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể thuộc 4 nội dung chính: Bảo đảm doanh nghiệp nhà nước thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước; thúc đẩy đầu tư, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh để kinh doanh hiệu quả, bền vững; đổi mới, nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp; cơ cấu lại vốn nhà nước và sắp xếp doanh nghiệp nhà nước.
Các đại biểu tham dự Hội nghị. Ảnh: Đức Thanh
Nghị quyết đã định hướng rõ đầu tư phát triển một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn, đóng vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế. Ban hành chính sách tạo động lực cho doanh nghiệp nhà nước tăng quy mô vốn điều lệ, bảo đảm đủ vốn, hỗ trợ lãi suất, cấp đủ tín dụng đối với các dự án, công trình trọng điểm quốc gia.
Khuyến khích doanh nghiệp nhà nước đẩy mạnh, tiên phong trong hoạt động nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, đầu tư liên kết làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải khí nhà kính. Có cơ chế cho phép hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm.
Đánh giá hiệu quả doanh nghiệp nhà nước trên cơ sở tổng thể mục tiêu, nhiệm vụ được giao, hạch toán, phản ánh đầy đủ lợi thế, các nguồn lực của nhà nước phù hợp với thông lệ quốc tế, hạch toán tách bạch nhiệm vụ sản xuất - kinh doanh với nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ không vì mục tiêu lợi nhuận. Định hướng mới của Nghị quyết số 79-NQ/TW về tổ chức cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là không làm ảnh hưởng đến kiểm soát của Nhà nước trong những lĩnh vực then chốt, chiến lược, không làm mất đi các thương hiệu quốc gia có uy tín, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị khẳng định.
Về thoái vốn nhà nước, điểm mới của Nghị quyết số 79-NQ/TW là đối với doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối thì có cơ chế, lộ trình phù hợp nhằm sáp nhập vào các doanh nghiệp nhà nước hoặc chuyển giao cho các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh vốn nhà nước ở trung ương hoặc địa phương, đảm bảo công khai, minh bạch, hiệu quả, theo nguyên tắc "Nhà nước làm những gì tư nhân không làm hoặc không có khả năng làm, những gì tư nhân làm được thì Nhà nước phải làm tốt hơn". Các thương hiệu quốc gia có uy tín tiếp tục đầu tư để hoạt động hiệu quả hơn. Tái cơ cấu Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước theo hướng kinh doanh vốn chuyên nghiệp, hướng tới hình thành Quỹ đầu tư quốc gia.
Tổ chức sắp xếp lại mạng lưới ngân hàng thương mại nhà nước, bảo đảm minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình đối với các tổ chức tín dụng nhà nước. Tăng vốn điều lệ cần xác định là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng lực tài chính, tỷ lệ an toàn vốn và hiệu quả hoạt động.
Nghị quyết nhấn mạnh chuyển các dịch vụ sự nghiệp công có khả năng xã hội hóa cao sang thực hiện cơ chế thị trường, mở rộng hợp tác công tư, khuyến khích khu vực ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ công. Chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên trong những ngành, lĩnh vực phù hợp./.
Hoàng Yến
Nguồn Thời báo Tài chính : https://thoibaotaichinhvietnam.vn/xac-lap-day-du-noi-ham-kinh-te-nha-nuoc-trong-boi-canh-moi-192628.html