Xăng E10 sẵn sàng 'phủ sóng' toàn quốc: Không ghi nhận sự cố, người dùng được hưởng lợi kép

Xăng E10 sẵn sàng 'phủ sóng' toàn quốc: Không ghi nhận sự cố, người dùng được hưởng lợi kép
2 giờ trướcBài gốc
Không chỉ được đánh giá an toàn về mặt kỹ thuật, xăng E10 còn được xem là bước chuyển tiếp quan trọng trong quá trình giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, thúc đẩy giao thông xanh và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Chưa ghi nhận phản ánh về E10 gây hại động cơ
Ông Nguyễn Anh Tuấn, Trưởng phòng Quản lý kinh doanh xăng dầu và khí, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cho biết, các phương tiện sản xuất từ năm 2022 trở lại đây về cơ bản đều đáp ứng yêu cầu sử dụng xăng E10 theo các tiêu chuẩn khí thải Euro 3, Euro 4 và Euro 5.
Ông Nguyễn Anh Tuấn, Trưởng phòng Quản lý kinh doanh xăng dầu và khí, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương)
Đối với các dòng xe đang lưu hành khác, theo báo cáo từ Petrolimex và PVOIL - hai doanh nghiệp đã triển khai bán xăng E10 từ tháng 8/2025 đến nay chưa ghi nhận phản ánh hay kiến nghị nào liên quan tới chất lượng xăng E10 đối với ô tô và xe máy trên thị trường.
“Thực tế này phần nào cho thấy những lo ngại về việc E10 gây hại cho động cơ hiện chưa có cơ sở từ dữ liệu triển khai thực tế”, ông Nguyễn Anh Tuấn nhấn mạnh.
Thông tin này đặc biệt đáng chú ý trong bối cảnh thời gian qua xuất hiện nhiều tin đồn trên mạng xã hội cho rằng xăng E10 có thể gây ăn mòn hệ thống nhiên liệu, làm nóng máy, tắc kim phun hoặc khiến xe hao xăng hơn.
Tuy nhiên, theo giới chuyên gia, phần lớn những lo ngại này đều thiếu cơ sở khoa học và chưa được kiểm chứng trong thực tế sử dụng.
E10 giúp động cơ cháy sạch hơn, giảm phát thải
Ở góc độ nghiên cứu kỹ thuật, PGS.TS Phạm Hữu Tuyến, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu các nguồn động lực và phương tiện tự hành (Đại học Bách khoa Hà Nội) cho biết, xăng E10 là hỗn hợp gồm khoảng 10% ethanol và 90% xăng khoáng.
Theo ông Tuyến, dù tỷ lệ ethanol chỉ ở mức 10% nhưng đủ để cải thiện quá trình cháy trong động cơ nhờ ethanol có chứa oxy. Điều này giúp nhiên liệu cháy hoàn thiện hơn, sạch hơn và góp phần nâng cao hiệu suất vận hành.
“Một số ý kiến cho rằng ethanol có nhiệt trị thấp hơn xăng khoáng nên có thể làm tăng tiêu hao nhiên liệu. Tuy nhiên, mức chênh lệch này không lớn và được bù đắp bởi quá trình cháy hiệu quả hơn trong động cơ”, ông Tuyến phân tích.
Theo các nghiên cứu và thử nghiệm thực tế, khi sử dụng xăng E10, công suất động cơ và mức tiêu hao nhiên liệu cơ bản tương đương với xăng khoáng truyền thống. Trong một số trường hợp, mức tiêu thụ nhiên liệu thậm chí còn được cải thiện nhờ quá trình đốt cháy tối ưu hơn.
Bên cạnh đó, lợi ích rõ rệt nhất của E10 là giảm phát thải khí độc hại như CO và các hợp chất hữu cơ chưa cháy hết, góp phần cải thiện chất lượng không khí và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Về chi phí, với các chính sách hỗ trợ hiện nay, xăng E10 thường có giá thấp hơn xăng khoáng, giúp người dân giảm chi phí sử dụng phương tiện.
Theo PGS.TS Phạm Hữu Tuyến, việc triển khai xăng E10 trên diện rộng về cơ bản không gây rủi ro kỹ thuật đối với các phương tiện giao thông hiện nay.
“Các chỉ tiêu về công suất, hiệu suất vận hành cũng như phát thải của phương tiện khi sử dụng xăng E10 gần như không thay đổi đáng kể so với xăng khoáng”, ông nói.
Tuy nhiên, cũng giống như với bất kỳ loại nhiên liệu nào khác, người sử dụng vẫn cần tuân thủ đúng các khuyến cáo về bảo dưỡng định kỳ từ nhà sản xuất để bảo đảm tuổi thọ và độ ổn định của phương tiện.
Theo ông Tuyến, xăng E10 là bước chuyển tiếp quan trọng giúp giảm dần phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch trong khi vẫn tận dụng được hạ tầng phương tiện hiện có.
“Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu trung hòa carbon và phát triển giao thông xanh, xăng E10 là giải pháp khả thi cả về kỹ thuật lẫn môi trường”, vị chuyên gia nhận định.
PGS.TS Phạm Hữu Tuyến, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu các nguồn động lực và phương tiện tự hành (Đại học Bách khoa Hà Nội).
Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế, PGS.TS Phạm Hữu Tuyến cho biết, nhiều quốc gia như Mỹ, Brazil hay Thái Lan đã xây dựng thành công hệ sinh thái nhiên liệu sinh học từ sản xuất đến tiêu thụ.
Điểm chung của các quốc gia này là sở hữu nguồn nguyên liệu dồi dào như ngô, mía hoặc sắn để sản xuất ethanol với quy mô lớn và chi phí hợp lý.
Bên cạnh đó, các nước cũng triển khai nhiều chính sách hỗ trợ như ưu đãi thuế, trợ giá và cơ chế khuyến khích tiêu dùng để nhiên liệu sinh học có tính cạnh tranh với xăng khoáng.
Một yếu tố quan trọng khác là sự tham gia của các nhà sản xuất ô tô trong việc công bố khả năng tương thích của động cơ với nhiên liệu sinh học, từ đó tạo dựng niềm tin cho người tiêu dùng.
Theo các chuyên gia, Việt Nam cần xây dựng chính sách đồng bộ hơn về phát triển vùng nguyên liệu, hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất ethanol, đầu tư hạ tầng phân phối và tăng cường truyền thông để người dân hiểu đúng về E10.
Đồng thời, cần thúc đẩy nghiên cứu các công nghệ ethanol thế hệ mới từ phụ phẩm nông nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả môi trường và giảm áp lực lên đất sản xuất.
Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh chuyển dịch năng lượng và giảm phát thải carbon, xăng E10 đang được xem là giải pháp phù hợp cho giai đoạn chuyển tiếp của Việt Nam. Không chỉ góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, xăng E10 còn mở ra cơ hội phát triển nông nghiệp nguyên liệu, giảm ô nhiễm môi trường và hướng tới nền giao thông xanh bền vững hơn trong tương lai.
Mạnh Tưởng
Nguồn PetroTimes : https://petrotimes.vn/xang-e10-san-sang-phu-song-toan-quoc-khong-ghi-nhan-su-co-nguoi-dung-duoc-huong-loi-kep-741466.html