Sử dụng đất sai mục đích sẽ bị xử lý như thế nào?
Trao đổi với PV Báo Sức khỏe và Đời sống, Thạc sĩ - luật sư Hoàng Thị Hương Giang (Đoàn luật sư TP. Hà Nội) cho biết, theo quy định tại khoản 2, Điều 9 Luật đất đai 2024, đất nông nghiệp có mục đích sử dụng đặc thù phục vụ cho mục đích trồng cây lâu năm, cây lúa, cây hàng năm. Việc xây nhà xưởng hay đổ đất san lấp mà chưa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt là hành vi sử dụng đất sai mục đích.
Theo Nghị định 123/2024/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, hành vi sử dụng đất nông nghiệp sai quy định tại điều 8 Nghị định này mức phạt tiền sẽ tính dựa trên diện tích vi phạm. Đối với tổ chức, mức phạt tiền có thể lên tới 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 2 héc ta trở lên. Bên cạnh đó, cá nhân tổ chức vi phạm còn phải khắc phục hậu quả, buộc phải trả lại về hiện trạng ban đầu của đất, tháo dỡ toàn bộ phần nhà xưởng xây dựng sai quy định.
Việc xây nhà xưởng hay đổ đất san lấp mà chưa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt là hành vi sử dụng đất sai mục đích. Ảnh minh họa - AI.
Cũng theo luật sư Hoàng Thị Hương Giang, đối với phần đất nông nghiệp đã được nhà nước giao hoặc cho cá nhân, hộ gia đình (có quyền sử dụng đất hợp pháp) thuê, việc xây dựng nhà xưởng, công trình mà chưa chuyển đổi mục đích sử dụng đất được xác định là hành vi sử dụng đất không đúng mục đích. Trong trường hợp này, chủ thể vi phạm chính là người đang có quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất đó.
Đối với phần đất nông nghiệp hiện đang do UBND cấp xã quản lý, việc cá nhân tự ý dựng nhà xưởng, công trình sẽ cấu thành hành vi chiếm đất. Theo khoản 9, Điều 3 Luật Đất đai 2024, hành vi chiếm đất được định nghĩa cụ thể như sau: "Chiếm đất là việc sử dụng đất do Nhà nước đã quản lý mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc sử dụng đất của người sử dụng đất hợp pháp khác mà chưa được người đó cho phép".
"Như vậy, khi một cá nhân tự ý xây dựng trên phần đất nông nghiệp do UBND cấp xã quản lý mà không có quyết định giao đất hay cho thuê đất từ cơ quan có thẩm quyền, hành vi này không đơn thuần là xây dựng trái phép mà phải được định danh là chiếm đất công. Đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền quản lý của Nhà nước, đối mặt với chế tài xử phạt nặng hơn và buộc phải khôi phục tình trạng ban đầu của đất", luật sư Hoàng Thị Hương Giang nhấn mạnh.
Trách nhiệm quản lý nhà nước của chính quyền địa phương được xác định?
Theo luật sư Hoàng Thị Hương Giang, sau sáp nhập, chính quyền địa phương 2 cấp và phân cấp trong lĩnh vực đất đai, nhiều trách nhiệm cấp huyện được chuyển giao xuống cấp xã. Cụ thể ví dụ như: Chủ tịch UBND cấp xã/phường thực hiện việc xác định lại diện tích đất ở và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất quy định tại khoản 6, Điều 141 Luật Đất đai;
Chủ tịch UBND cấp xã/phường thực hiện việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 236; ban hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp đất đai quy định tại khoản 4, Điều 236 Luật Đất đai;
Thạc sĩ - luật sư Hoàng Thị Hương Giang (Đoàn luật sư TP. Hà Nội). Ảnh: NVCC.
Chủ tịch UBND cấp xã/phường có trách nhiệm tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế quyết định giải quyết tranh chấp đất đai quy định tại khoản 4, Điều 236 Luật Đất đai; phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại địa phương theo thẩm quyền...
Tương tự đối với việc quản lý nhà nước đối với những trường hợp vi phạm xây dựng, san lấp đất nông nghiệp là thẩm quyền của UBND cấp xã/phường. Theo đó UBND cấp xã/phường có trách nhiệm quản lý, bảo quản bản đồ địa chính, sổ mục kê đất đai và sổ địa chính đối với đất nông nghiệp trên địa bàn. Phải nắm rõ người đang trực tiếp canh tác, tình trạng bỏ hoang hóa đất hoặc những dấu hiệu tự ý chuyển đổi cơ cấu cây trồng trái phép trên đất nông nghiệp.
Bên cạnh đó, UBND cấp xã/phường còn có trách nhiệm xử lý khi phát hiện sai phạm trong việc sử dụng đất nông nghiệp phải lập biên bản vi phạm.
Khi phát hiện xảy ra sai phạm, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của sai phạm mà sẽ có những hình thức xử lý thích hợp đối với những cá nhân có liên quan. Cụ thể, Điều 240 Luật Đất đai 2024 quy định rõ về việc xử lý trách nhiệm của người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai khi thi hành công vụ. Theo đó, người có thẩm quyền nếu thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra vi phạm pháp luật về đất đai hoặc không xử lý hành vi vi phạm thì tùy tính chất, mức độ mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
"Trong trường hợp hậu quả ít nghiêm trọng cán bộ có thể bị áp dụng các hình thức khiển trách/cảnh cáo. Trường hợp này thường áp dụng khi cán bộ chậm trễ xử lý, để xảy ra sai phạm nhưng hậu quả có thể khắc phục được. Giáng chức/cách chức/bãi nhiệm áp dụng cho người đứng đầu để xảy ra hậu quả nghiêm trọng, dư luận bức xúc, sai phạm lan rộng không thể khắc phục tình trạng ban đầu.
Còn trường hợp để lại hậu quả nghiêm trọng thì người chịu trách nhiệm phải đối mặt với việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự căn cứ theo Điều 360 - Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Đây là tội danh phổ biến nhất áp dụng cho cán bộ địa phương "nhắm mắt làm ngơ" hoặc không làm hết trách nhiệm kiểm tra, giám sát, dẫn đến hậu quả thiệt hại về tài sản hoặc phi tài sản cho Nhà nước và xã hội. Mức phạt cao nhất có thể lên đến 12 năm tù.
Còn sẽ căn cứ theo Điều 229 - Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai, nếu sự chậm trễ, không xử lý có đi kèm với các hành vi như cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật, giao đất trái thẩm quyền để hợp thức hóa cho sai phạm. Mức phạt cao nhất lên đến 12 năm tù", luật sư Hoàng Thị Hương Giang thông tin.
Quỳnh Mai