Xử lý nợ xấu: 'Chìa khóa' không chỉ là trao quyền, mà còn ở năng lực thực thi

Xử lý nợ xấu: 'Chìa khóa' không chỉ là trao quyền, mà còn ở năng lực thực thi
2 giờ trướcBài gốc
“Vùng trũng pháp lý” sau khi Nghị quyết 42 hết hiệu lực
Việc quyền thu giữ tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu tại ngân hàng chính thức được luật hóa trong Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 96/2025/QH15, đang được xem là một trong những bước chuyển quan trọng nhất của hệ thống xử lý nợ xấu tại Việt Nam trong nhiều năm gần đây.
Trước đó, Nghị quyết 42/2017/QH14 đã tạo ra một cơ chế đặc thù cho việc xử lý nợ xấu, cho phép các tổ chức tín dụng có thêm công cụ để xử lý tài sản bảo đảm, thu hồi nợ và tái cơ cấu dòng vốn. Tuy nhiên, do đây vẫn là cơ chế mang tính thí điểm, nên trên thực tế, nhiều chủ thể tham gia phối hợp vẫn có tâm lý thận trọng, nhất là trong các vụ việc có nguy cơ phát sinh tranh chấp dân sự, khiếu kiện hoặc xung đột lợi ích.
Đặc biệt, sau khi Nghị quyết 42/2017/QH14 hết hiệu lực (từ tháng 8/2022 sau năm năm kể từ ngày nghị quyết có hiệu lực thi hành), đã tạo ra một “vùng trũng pháp lý” khiến không ít hoạt động xử lý nợ xấu ngân hàng rơi vào trạng thái chờ đợi và phòng thủ.
Trong thực tiễn đã xuất hiện những trường hợp quy trình thu giữ hoặc xử lý tài sản bảo đảm phải rà soát lại đáng kể sau khi cơ chế thí điểm hết hiệu lực, do các chủ thể tham gia phối hợp trở nên thận trọng hơn về cơ sở pháp lý thực thi.
Đáng chú ý, trong một số vụ việc, phương án xử lý tài sản bảo đảm gần như phải đánh giá lại từ đầu vì nhiều bên liên quan lo ngại thiếu cơ sở pháp lý đủ rõ ràng để tiếp tục triển khai các bước phối hợp trên thực tế.
Luật sư Trương Anh Tú, Chủ tịch TAT Law Firm. Ảnh. NVCC.
Khi cơ chế đặc thù không còn hiệu lực rõ ràng, nhiều hoạt động xử lý tài sản bắt đầu phát sinh tâm lý “an toàn”, dẫn đến việc phối hợp giữa các chủ thể trở nên dè dặt hơn.
Trong một số trường hợp, tài sản bảo đảm là dự án bất động sản hoặc tài sản có giá trị lớn bị kéo dài thời gian xử lý do các bên lo ngại phát sinh tranh chấp liên quan đến thủ tục thu giữ, đấu giá, chuyển nhượng hoặc sang tên tài sản sau thu giữ.
Một tài sản có thể đủ điều kiện xử lý về mặt pháp lý, nhưng nếu toàn bộ hệ thống đều có tâm lý chờ hướng dẫn, chờ cơ chế rõ hơn hoặc chờ xác lập trách nhiệm phối hợp thì tài sản đó vẫn có nguy cơ bị “treo” trong thời gian dài.
Hệ quả của tình trạng này là rất lớn. Khi tài sản không thể lưu thông đúng thời điểm, chi phí mà nền kinh tế phải trả thường lớn hơn rất nhiều giá trị của chính khoản nợ xấu.
Mặt khác, một trong những vấn đề ít được nhắc tới nhưng lại ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế chính là “chi phí niềm tin” phát sinh từ sự thiếu chắc chắn của hệ thống thực thi.
Tài sản bảo đảm bị treo kéo dài sẽ dẫn đến chi phí vốn gia tăng, chi phí phòng thủ pháp lý tăng lên và niềm tin của thị trường vào môi trường kinh doanh giảm sút. Đây là điểm rất quan trọng bởi trong một nền kinh tế hiện đại, niềm tin vào khả năng thực thi của hệ thống pháp luật có giá trị không kém bản thân quy định pháp luật.
Một doanh nghiệp sẽ rất khó đưa ra quyết định đầu tư dài hạn nếu họ không biết tài sản bảo đảm có thể được xử lý đúng thời gian hay không. Một tổ chức mua bán nợ sẽ rất khó định giá tài sản nếu toàn bộ quá trình xử lý phụ thuộc vào quá nhiều biến số thực thi.
Thị trường không chỉ định giá tài sản. Thị trường còn định giá khả năng thực thi của hệ thống pháp luật. Nếu một tài sản bảo đảm cần mất nhiều năm chỉ để hoàn tất các thủ tục thu giữ, đấu giá hoặc sang tên thì chi phí thực tế mà nền kinh tế phải gánh sẽ lớn hơn rất nhiều con số nợ xấu ngân hàng ghi nhận trên báo cáo tài chính.
Chính vì vậy, việc luật hóa tinh thần của Nghị quyết 42 còn có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi xử lý nợ xấu đơn thuần. Bởi trong một nền kinh tế hiện đại, khả năng lưu thông của tài sản và khả năng thực thi ổn định của hệ thống pháp luật luôn gắn chặt với niềm tin của thị trường đối với dòng vốn, đầu tư và hoạt động kinh doanh dài hạn.
Bước chuyển lớn từ tư duy xử lý tình huống sang vận hành ổn định, lâu dài
Bên cạnh những tác động tháo gỡ vướng mắc từ thực tiễn, điểm thay đổi lớn nhất của việc luật hóa không chỉ nằm ở hiệu lực pháp lý, mà ở tâm lý vận hành của toàn hệ thống đã có sự chuyển biến mạnh mẽ từ tư duy xử lý tình huống sang vận hành ổn định và lâu dài.
Trong một nền kinh tế mà tài sản bảo đảm đang chiếm tỷ trọng rất lớn trong hoạt động tín dụng, việc xử lý tài sản không còn là vấn đề riêng của ngân hàng. Nó liên quan trực tiếp đến khả năng lưu thông vốn, tái khởi động dự án, tái cơ cấu doanh nghiệp và niềm tin của thị trường vào năng lực thực thi của hệ thống pháp luật.
Khi tinh thần của Nghị quyết 42 được luật hóa, đây không còn là giải pháp tình huống, mà đã trở thành một phần ổn định của hệ thống pháp luật cần được thực thi theo chuẩn thống nhất và lâu dài. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh khả năng tiên liệu pháp lý ngày càng trở thành nền tảng của niềm tin thị trường.
Luật sư Trương Anh Tú, Chủ tịch TAT Law Firm.
Do đó, khi tinh thần của Nghị quyết 42 được luật hóa, đây không còn là giải pháp tình huống mà đã trở thành một phần ổn định của hệ thống pháp luật cần được thực thi theo chuẩn thống nhất và lâu dài. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh khả năng tiên liệu pháp lý ngày càng trở thành nền tảng của niềm tin thị trường.
Bên cạnh đó, một cơ chế xử lý nợ xấu hiệu quả không chỉ phụ thuộc vào việc pháp luật có trao thêm quyền hay không, mà còn phụ thuộc vào khả năng phối hợp đồng bộ và thực thi thống nhất giữa các chủ thể liên quan. Điều thị trường cần là quyền đó được thực hiện đúng thủ tục, đúng giới hạn và đủ ổn định trên thực tế.
Theo đó, một trong những điểm mới quan trọng của Luật số 96/2025/QH15 là mở rộng phạm vi áp dụng cơ chế xử lý nợ xấu, không còn giới hạn thời điểm phát sinh khoản nợ như trước đây.
Thay đổi này có ý nghĩa rất lớn về mặt cấu trúc thị trường, bởi trước đây, hệ thống rất dễ rơi vào tình trạng tồn tại nhiều lớp cơ chế xử lý khác nhau, khiến hoạt động mua bán nợ, tái cơ cấu tài sản bảo đảm và xử lý dự án gặp nhiều khó khăn.
Thị trường mua bán nợ muốn phát triển thì điều kiện tiên quyết là phải có tính liên tục và khả năng tiên liệu. Không thể để cùng là nợ xấu nhưng khoản này được áp dụng cơ chế đặc thù, còn khoản khác lại phải quay về quy trình xử lý thông thường kéo dài nhiều năm.
Vẫn còn những điểm nghẽn
Dù quyền thu giữ tài sản bảo đảm đã được luật hóa, song vẫn còn một số điểm nghẽn cần được tháo gỡ.
Theo tinh thần các điều kiện tại khoản 2 Điều 198a Luật Các tổ chức tín dụng 2024, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 96/2025/QH15, quyền thu giữ chỉ được thực hiện khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định, bao gồm việc phát sinh trường hợp xử lý tài sản bảo đảm theo Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về quyền thu giữ, biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba, tài sản đáp ứng điều kiện được thu giữ theo quy định pháp luật và tổ chức tín dụng đã thực hiện công khai thông tin theo quy định.
"Luật hóa quyền thu giữ tài sản bảo đảm chỉ thực sự có ý nghĩa khi quyền đó có thể được thực thi ổn định, minh bạch và có thể tiên liệu được trong thực tế" - Luật sư Trương Anh Tú. Ảnh: NVCC.
Trong khi đó, khó khăn lớn nhất trong thực tế thường không nằm ở việc hợp đồng có ghi nhận quyền thu giữ hay không, mà nằm ở khả năng chứng minh quy trình thu giữ đã được thực hiện hợp lệ, minh bạch và đúng thủ tục.
Khi bên vay cố tình né tránh, không nhận thông báo hoặc phát sinh tranh chấp về thủ tục thì tổ chức tín dụng rất dễ đối mặt với rủi ro tố tụng. Trong nhiều vụ việc, tranh chấp sau đó không còn xoay quanh nghĩa vụ trả nợ mà chuyển thành tranh chấp về trình tự, thủ tục và tính hợp lệ của hoạt động thu giữ.
Theo nguyên tắc của Bộ luật Dân sự 2015, việc xử lý tài sản bảo đảm phải tuân thủ đúng trình tự, thủ tục, đồng thời bảo đảm thiện chí, trung thực và minh bạch trong thực hiện quyền dân sự. Vì vậy, chỉ cần có sai sót trong việc thông báo, công khai hoặc niêm yết thì tổ chức tín dụng có thể đối mặt với tranh chấp yêu cầu xem xét tính hợp pháp của hoạt động thu giữ.
Mặt khác, quyền thu giữ tài sản bảo đảm dù được mở rộng vẫn phải đặt trong giới hạn bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp được Hiến pháp và pháp luật dân sự ghi nhận.
Một cơ chế xử lý nợ xấu ngân hàng muốn bền vững không thể chỉ nhìn từ phía hiệu quả thu hồi nợ, mà còn phải nhìn từ phía tính chính danh của quyền lực pháp lý được trao.
Đây cũng là lý do việc luật hóa quyền thu giữ phải đi kèm với các điều kiện chặt chẽ về thủ tục, công khai thông tin, trách nhiệm phối hợp và cơ chế kiểm soát.
Nếu cơ chế thu giữ bị thực hiện tùy tiện, thiếu chứng cứ, thiếu minh bạch hoặc thiếu giới hạn thì rất dễ phát sinh xung đột xã hội và làm suy giảm niềm tin vào chính hệ thống xử lý nợ.
Ngược lại, nếu quyền thu giữ được thực hiện đúng điều kiện, đúng thủ tục và có kiểm soát thì đây sẽ là công cụ quan trọng để khơi thông tài sản, giảm nợ xấu và bảo vệ kỷ luật tín dụng.
Xử lý nợ xấu không thể chỉ đặt trọng tâm vào quyền của bên nhận bảo đảm, mà phải duy trì được sự cân bằng lợi ích giữa hiệu quả kinh tế, quyền dân sự và ổn định xã hội.
Mấu chốt lớn nhất vẫn nằm ở khâu thực thi
Phía sau các quy định pháp luật được luật hóa, điều thị trường quan tâm hiện nay là liệu các quy định đó có thể được thực thi ổn định, minh bạch và thống nhất trong thực tế hay không, nhất là khi Nghị định 304/2025/NĐ-CP đã tiếp tục quy định điều kiện đối với tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu được thu giữ và cơ chế xử lý đối với một số trường hợp đặc thù liên quan đến chỗ ở duy nhất hoặc tài sản gắn với nhu cầu sinh kế thiết yếu.
Nếu chỉ luật hóa quyền thu giữ tài sản mà không đồng bộ hóa các khâu sau thu giữ như đấu giá tài sản, sang tên, xử lý nghĩa vụ đất đai hoặc phối hợp thi hành án, thì thị trường vẫn có thể tiếp tục đối mặt với tình trạng tài sản xử lý được về mặt nguyên tắc, nhưng khó chuyển hóa thành dòng tiền trên thực tế.
Luật sư Trương Anh Tú, Chủ tịch TAT Law Firm.
Nói cách khác, thách thức của xử lý nợ xấu ngân hàng sau Luật số 96/2025/QH15 không còn chỉ là thiết kế quyền, mà là thiết kế khả năng thực thi quyền trong một trật tự pháp lý có kiểm soát, không làm suy giảm quyền sở hữu hợp pháp cũng như các quyền dân sự của bên vay.
Trên thực tế, một trong những vấn đề được nhắc đến nhiều nhất trong thời gian qua là quy định về phối hợp bảo đảm an ninh trật tự trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm.
Trong nhiều vụ việc, nhiều địa phương vẫn có tâm lý thận trọng do lo ngại phát sinh tranh chấp dân sự, khiếu kiện hoặc vượt quá phạm vi trách nhiệm hỗ trợ. Điều này cho thấy bài toán hiện nay nằm ở việc xác định rõ phạm vi trách nhiệm phối hợp, trình tự hỗ trợ và cơ chế xử lý tình huống phát sinh tại hiện trường.
Một cơ chế xử lý nợ xấu hiệu quả, ngoài quyền của tổ chức tín dụng, phải có sự phối hợp có chuẩn mực giữa tổ chức tín dụng, chính quyền địa phương, lực lượng bảo đảm an ninh trật tự và các cơ quan liên quan. Việc có càng nhiều chủ thể cùng tham gia mà thiếu cơ chế điều phối rõ ràng thì chi phí hệ thống càng lớn và thời gian xử lý càng kéo dài.
Một điểm đáng chú ý khác là dù quyền thu giữ đã được luật hóa, nhưng quá trình xử lý tài sản sau thu giữ vẫn còn nhiều “nút cổ chai”.
Theo đó, trong nhiều trường hợp, khó khăn nằm ở giai đoạn xử lý tiếp theo như đấu giá tài sản, sang tên, xử lý nghĩa vụ đất đai hoặc phối hợp thi hành án.
Vì vậy, nếu chỉ luật hóa quyền thu giữ mà không đồng bộ hóa các khâu sau thu giữ thì thị trường vẫn có thể tiếp tục đối mặt với tình trạng tài sản xử lý được về mặt nguyên tắc nhưng khó chuyển hóa thành dòng tiền trên thực tế.
Đây là vấn đề đặc biệt rõ đối với các dự án bất động sản là tài sản bảo đảm. Một dự án bị treo kéo dài không chỉ làm giảm giá trị tài sản mà còn kéo theo hàng loạt hệ lụy như hạ tầng dở dang, dòng vốn đình trệ, doanh nghiệp mất cơ hội phục hồi và người mua nhà bị ảnh hưởng.
Trong nhiều trường hợp, điều thị trường cần không chỉ là xử lý được nợ, mà là tái khởi động được tài sản.
Do đó, tôi cho rằng, nếu cơ chế thu giữ tài sản bảo đảm được thực thi ổn định, minh bạch, cùng với việc đồng bộ hóa các quy trình tiếp theo, cơ chế thực thi tiếp tục được chuẩn hóa giữa tổ chức tín dụng, cơ quan thực thi và chính quyền địa phương, thì thị trường mua bán nợ, tái cấu trúc tài sản và tái khởi động dự án sẽ có thêm điều kiện để phát triển.
Khi đó, xử lý nợ xấu sẽ trở thành một phần của quá trình tái phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế. Đây mới là ý nghĩa dài hạn của việc luật hóa quyền thu giữ tài sản bảo đảm, mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển kinh tế, xã hội.
Luật sư Trương Anh Tú
Nguồn Nhà Quản Trị : https://theleader.vn/xu-ly-no-xau-buoc-chuyen-lon-tu-tu-duy-giai-phap-tinh-huong-sang-van-hanh-on-dinh-lau-dai-d46043.html