Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức họp báo thường kỳ quý I/2026, cung cấp thông tin về tình hình sản xuất, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục biến động phức tạp.
Ảnh minh họa.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết, ngày 1/4 cũng là thời điểm kết thúc quý 1/2026, trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến rất phức tạp. Sau năm 2025, ngành vẫn duy trì được đà tăng trưởng 3,78%, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 61 tỷ USD, xuất siêu 21,31 tỷ USD và phấn đấu năm 2026 đạt khoảng 73,4 tỷ USD.
Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, biến động giá xăng dầu và năng lượng ảnh hưởng lớn đến sản xuất, đặc biệt trong nông nghiệp, từ khai thác thủy sản, trồng trọt đến chế biến. Cùng với đó là tác động kéo dài của xung đột Nga - Ukraine, chiến tranh thương mại và các rủi ro toàn cầu. Tuy nhiên, trong bối cảnh khó khăn, ngành vẫn duy trì được nền tảng sau hơn 40 năm tái cơ cấu và giữ vững kết quả đạt được trong năm 2025.
Về sản xuất, trồng trọt đạt sản lượng khoảng 3,64 triệu tấn, giảm 5,5% do yếu tố mùa vụ; trong khi chăn nuôi tiếp tục tăng trưởng với đàn lợn tăng 2,9%, gia cầm tăng 3,3%; tổng sản lượng thịt các loại đạt khoảng 2,27 triệu tấn, dự kiến cả năm khoảng 9 triệu tấn (năm trước 8,67 triệu tấn). Sản lượng trứng đạt khoảng 5,5 tỷ quả trong quý 1, ước cả năm khoảng 22 tỷ quả. Sản lượng sữa 3 tháng đạt khoảng 359,7 nghìn tấn, dự kiến cả năm đạt 1,43 triệu tấn.
Lĩnh vực lâm nghiệp đạt sản lượng gỗ khoảng trên 8 triệu m³, tăng 2,6%. Thủy sản đạt khoảng 2,18 triệu tấn, tăng hơn 3%.
Đáng chú ý, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản (NLTS) tháng 3 năm 2026 của Việt Nam ước đạt 6,02 tỷ USD, tăng 47,8% so với tháng trước nhưng giảm 1,5% so với cùng kỳ năm trước. Tổng kim ngạch xuất khẩu NLTS 3 tháng đầu năm 2026 đạt 16,69 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2025.
Kim ngạch nhập khẩu NLTS tháng 3 năm 2026 của Việt Nam ước đạt 4,46 tỷ USD, tăng 37% so với tháng trước và tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản đạt 8,93 tỷ USD, tăng 4,1%; giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 197,7 triệu USD, tăng 54,3%; giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 2,62 tỷ USD, tăng 13,3%; giá trị xuất khẩu lâm sản đạt 4,11 tỷ USD, giảm 2,4%; giá trị xuất khẩu đầu vào sản xuất đạt 834,3 triệu USD, tăng 56,7%; giá trị xuất khẩu muối đạt 3,3 triệu USD, tăng 31,7%.
Xét theo vùng lãnh thổ, châu Á là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các mặt hàng NLTS chính của Việt Nam với thị phần chiếm 45,1%, 2 thị trường lớn tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu với thị phần lần lượt là 20,7% và 16,2%. Thị phần của 2 khu vực châu Phi và châu Đại Dương chiếm lần lượt 2,1% và 1,4%. So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị xuất khẩu NLTS chính của Việt Nam 3 tháng đầu năm 2026 sang khu vực châu Á tăng 15,3%; châu Mỹ giảm 3,4%; châu Âu tăng 4,8%; châu Phi giảm 29%; và châu Đại Dương tăng 20,1%.
Xét theo thị trường chi tiết, Trung Quốc với thị phần 22,1%, Hoa Kỳ với thị phần 18,3%, và Nhật Bản với thị phần 7,1%, là 3 thị trường xuất khẩu các mặt hàng NLTS chính lớn nhất của Việt Nam. So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị xuất khẩu NLTS của Việt Nam 3 tháng đầu năm 2026 sang thị trường Trung Quốc tăng 37,6%, thị trường Nhật Bản tăng 0,7%, trong khi thị trường Hoa Kỳ giảm 5,2%.
PV