Quang cảnh Họp báo. Ảnh: N.Lộc
Đây là thông tin được Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết tại họp báo thường thường kỳ tháng 4/2026 diễn ra sáng 01/4.
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến thông tin tại cuộc họp
Phát biểu tại Họp báo, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết, biến động giá xăng dầu và năng lượng ảnh hưởng lớn đến sản xuất, đặc biệt trong nông nghiệp, từ khai thác thủy sản, trồng trọt đến chế biến. Tuy nhiên, trong bối cảnh khó khăn, ngành vẫn duy trì được nền tảng sau hơn 40 năm tái cơ cấu và giữ vững kết quả đạt được trong năm 2025.
Thông tin cụ thể về vấn đề này, ông Trần Gia Long - Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) - cho biết, xuất khẩu trong cả quý I xét theo từng nhóm hàng, lĩnh vực nông sản tiếp tục giữ vai trò chủ lực với giá trị xuất khẩu đạt 8,93 tỷ USD, tăng 4,1%. Xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất, đạt 197,7 triệu USD, tăng tới 54,3%. Đây là tín hiệu tích cực cho thấy ngành chăn nuôi đang dần cải thiện năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường.
Cán cân thương mại NLTS tháng 3 năm 2026 ước đạt thặng dư 1,55 tỷ USD, tăng 90,9% so với tháng trước nhưng giảm 19,3% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 3 tháng đầu năm 2026, thặng dư cán cân thương mại NLTS ước đạt 4,78 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo nhóm hàng, lâm sản, thủy sản và nông sản là 3 nhóm hàng có cán cân thương mại 3 tháng đầu năm 2026 ở trạng thái thặng dư
Xét theo khu vực thị trường, châu Á vẫn là điểm đến lớn nhất của nông lâm thủy sản Việt Nam, chiếm 45,1% tổng thị phần. Trong 3 tháng đầu năm, xuất khẩu sang khu vực này tăng mạnh 15,3%, cho thấy nhu cầu tiêu thụ ổn định và lợi thế địa lý của Việt Nam. Các thị trường tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu, chiếm lần lượt 20,7% và 16,2% thị phần.
Xuất khẩu sang châu Mỹ giảm 3,4%, trong khi châu Âu tăng nhẹ 4,8%. Hai khu vực có quy mô nhỏ hơn là châu Phi và châu Đại Dương ghi nhận những biến động đáng chú ý, với mức giảm sâu 29% tại châu Phi và tăng mạnh 20,1% tại châu Đại Dương.
Tuy nhiên, theo ông Long, xuất khẩu NLTS dự báo gặp khó khăn trong thời gian tới do tác động của cuộc xung đột quân sự tại Trung Đông, làm gia tăng rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí năng lượng và vận tải quốc tế, ảnh hưởng đến tuyến đường xuất khẩu NLTS sang Trung Đông và xuất khẩu sang các thị trường Bắc và Trung Phi, Nam Âu, Trung Âu, Tây Âu, và Bắc Âu.
Hiện nay, một số ngành hành vẫn duy trì tăng trưởng (rau quả tăng 32,1%, thủy sản tăng 13,3%, hồ tiêu tăng 28,8%), nhưng một số nhóm ngành hàng chủ lực đang có dấu hiệu suy giảm, điển hình là gỗ và sản phẩm gỗ (giảm 3,5%), cà phê (giảm 6,4%), hạt điều (giảm 1,8%). Nguyên nhân suy giảm một phần do chi phí xăng dầu, logistics cả trong và ngoài nước tăng đột biến thời gian qua.
Tại Họp báo, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đã thông tin về một số định hướng, nhiệm vụ, giải pháp để tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy xuất khẩu nông sản trong thời gian tới.
Theo đó, Bộ sẽ thực hiện đồng bộ, hiệu quả các Nghị quyết, luật, chiến lược, chương trình, đề án, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành và từng lĩnh vực.
Triển khai đầy đủ các nhiệm vụ, giải pháp tại Chương trình hành động của Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện các Nghị quyết của Chính phủ: số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 và số 02/NQ-CP ngày 08/01/2026 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2026.
Ông Trần Gia Long - Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường - thông tin tại cuộc họp. Ảnh: N.Lộc
Đề cập đến các nhiệm vụ, giải pháp trước mắt ứng phó với tác động của cuộc xung đột quân sự Trung Đông tới sản xuất và xuất khẩu NLTS, ông Long cho biết, Bộ sẽ tiếp tục theo dõi sát diễn biến chiến sự và rủi ro logistics quốc tế: Tăng cường cập nhật thông tin về tình hình an ninh hàng hải tại khu vực Vùng Vịnh, Biển Đỏ và kênh đào Suez; đánh giá kịp thời tác động đến chi phí vận tải, bảo hiểm và thời gian giao hàng. Thiết lập cơ chế cảnh báo sớm cho doanh nghiệp về rủi ro vận chuyển và thanh toán.
Triển khai các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp có hợp đồng bị đình trệ hoặc chậm thanh toán, bao gồm giãn nợ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, hỗ trợ lưu kho, bảo quản hàng hóa (đặc biệt đối với thủy sản và rau quả). Tăng cường vai trò của hệ thống Thương vụ Việt Nam tại các nước Trung Đông trong việc kết nối, xử lý tranh chấp thương mại.
Đẩy mạnh xúc tiến thương mại và đa dạng hóa thị trường: Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại tại các thị trường thay thế tiềm năng như Đông Á, Nam Á, EU, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Tận dụng hiệu quả các FTA đã ký kết để mở rộng thị phần. Hỗ trợ doanh nghiệp tham gia hội chợ, kết nối giao thương trực tuyến và phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới.
Phối hợp với hiệp hội ngành hàng (điều, cà phê, hồ tiêu, thủy sản, lúa gạo, rau quả…) cập nhật tình hình đơn hàng, tồn kho, giá cả và đề xuất giải pháp linh hoạt tháo gỡ khó khăn theo từng ngành./.
N.LỘC