Số liệu công bố ngày 4/6 của Cục Hải quan cho biết, tháng 5/2026, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 99 tỷ USD, bao gồm 46,9 tỷ USD xuất khẩu, nhập khẩu với 52,1 tỷ USD.
Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 445 tỷ USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm trước (YoY). Đây là mức kim ngạch 5 tháng cao nhất kể từ giai đoạn 2013 đến nay.
Trong đó, giá trị xuất khẩu ở mức 215 tỷ USD, tăng 19,5% so với cùng kỳ; nhập khẩu đạt 229 tỷ USD, tăng 30,8% YoY; nhập siêu 13,8 tỷ USD.
Bốn mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD
Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam có 4 mặt hàng xuất khẩu đạt giá trị từ 10 tỷ USD trở lên. Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất với 56,1 tỷ USD, tăng 46,2% YoY.
Các mặt hàng đứng sau lần lượt là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác với 26,9 tỷ USD, tăng 22,1% YoY; điện thoại và linh kiện với 26,3 tỷ USD, tăng 17,7% YoY; dệt may đạt 15,1 tỷ USD, tăng nhẹ 0,4% YoY.
Tổng kim ngạch các mặt hàng trên đạt 124,6 tỷ USD, chiếm 58% tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam trong kỳ.
Trong nhóm dệt may, Việt Nam thu về 9,7 tỷ USD từ xuất khẩu giày dép, tăng 0,2% so với cùng kỳ; xơ sợi dệt các loại với 1,8 tỷ USD, tăng 8,7% YoY; nguyên phụ liệu dệt may, da giày tăng 9,3% YoY, lên 1,06 tỷ USD.
Việt Nam xuất khẩu sản phẩm dệt đã hoàn thiện khác với 697 triệu USD, tăng 5,7% YoY; 330 triệu USD với vải mành, vải kỹ thuật, tăng 1,2% YoY.
Trong nhóm nguyên vật liệu, Việt Nam còn thu về 3,09 tỷ USD từ xuất khẩu sắt thép, tăng nhẹ 0,1% YoY; sản phẩm từ sắt thép lại giảm 1,3% YoY, còn 2,3 tỷ USD; hóa chất tăng 30,4% YoY, đạt 1,4 tỷ USD.
Trong kỳ, một số mặt hàng xuất khẩu tăng cao như chất dẻo nguyên liệu tăng 52% YoY, lên 1,5 tỷ USD; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện tăng 16,5% YoY, đạt 3,4 tỷ USD; dây điện và dây cáp điện tăng 19% YoY, đạt 2,01 tỷ USD.
Kim ngạch xuất khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng cũng tăng 17,1% so với cùng kỳ, lên mức 7,98 tỷ USD; đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận tăng 36,4% YoY, đạt 3,3 tỷ USD; sản phẩm nội thất từ chất liệu khác gỗ tăng 17,3% YoY, lên 1,7 tỷ USD; phân bón tăng 104% YoY, đạt 761 triệu USD.
Trong nhóm nông lâm thủy sản, gỗ và sản phẩm gỗ tăng nhẹ 2,9% YoY, lên 7 tỷ USD; cao su lại giảm 5,1% YoY, còn 995 triệu USD.
Kim ngạch xuất khẩu thủy sản tăng 11% so với cùng kỳ, đạt 4,6 tỷ USD; rau quả tăng 20,4% YoY, ở mức 2,76 tỷ USD; hạt tiêu với 790 triệu USD, tăng 14,4% YoY; sắn và sản phẩm sắn tăng 2,7% YoY, đạt 618 triệu USD.
Trong khi đó, cà phê xuất khẩu lại giảm 13,5% YoY, còn 4,2 tỷ USD; gạo giảm 7,4% YoY, đạt 2,01 tỷ USD; hạt điều giảm 0,3% YoY, ở mức 1,87 tỷ USD; chè giảm 2,5% YoY, đạt 75 triệu USD; quế và hoa quế giảm 0,7% YoY, đạt 124 triệu USD.
Nhập khẩu điện tử tăng mạnh
Lũy kế 5 tháng đầu năm, Việt Nam chi 229 tỷ USD để nhập khẩu hàng hóa, tăng 30,8% so với cùng kỳ.
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng tới 57,1% YoY, lên 88,2 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác cũng lên mức 27,8 tỷ USD, tăng 21,6% YoY.
Tổng kim ngạch hai mặt hàng trên đạt 116 tỷ USD, chiếm 50% tỷ trọng nhập khẩu của Việt Nam trong kỳ.
Một số mặt hàng nhập khẩu lớn khác cũng tăng cao như kim loại thường khác tăng 32% YoY, đạt 5,9 tỷ USD; sản phẩm từ sắt thép tăng 29,8% YoY, ở mức 3,8 tỷ USD; linh kiện, phụ tùng ô tô tăng 44,7% YoY, đạt 3,1 tỷ USD.
Sản phẩm chất dẻo nhập khẩu tăng 18,1% so với cùng kỳ, đạt 4,7 tỷ USD; chất dẻo tăng 9% YoY, đạt 5,6 tỷ USD; hóa chất tăng 27,3% YoY, ở mức 4,1 tỷ USD; sản phẩm hóa chất tăng 17,2% YoY, đạt 3,6 tỷ USD.
Trong nhóm năng lượng & khoáng sản, xăng dầu nhập khẩu tăng tới 81,6% so với cùng kỳ, lên 4,8 tỷ USD; dầu thô tăng 4,1% YoY, đạt 3,5 tỷ USD; than đá tăng 17% YoY, lên 3,7 tỷ USD; quặng và khoáng sản khác tăng 35,8% YoY, đạt 1,7 tỷ USD.
Kim ngạch nhập khẩu khí đốt hóa lỏng cũng tăng 40,6% YoY, đạt 1,1 tỷ USD; sản phẩm khác từ dầu mỏ tăng 97,4% YoY, lên 1,3 tỷ USD.
Ở nhóm may mặc, Việt Nam chi 6,2 tỷ USD để nhập khẩu vải, giảm nhẹ 0,5% YoY; nguyên phụ liệu dệt may, da giày với 3,07 tỷ USD, tăng 2,9% YoY; sợi dệt với 1,2 tỷ USD, tăng 8,8% YoY; bông giảm 6,3% YoY, đạt 1,2 tỷ USD.
Ở nhóm điện tử, điện thoại và linh kiện nhập khẩu giảm 6,7% YoY, còn 3,8 tỷ USD; hàng điện gia dụng và linh kiện tăng 18,7% YoY, lên 1,4 tỷ USD; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện với 13,8% YoY, đạt 1,06 tỷ USD.
Ở nhóm phương tiện, Việt Nam chi 2,2 tỷ USD để nhập khẩu ô tô nguyên chiếc, tăng 25,7% YoY; xe máy và linh kiện, phụ tùng đạt 404 triệu USD, tăng 41% YoY; phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 42,5% YoY, đạt 820 triệu USD.
Trong nhóm nông thủy sản, hạt điều nhập khẩu tăng 18% so với cùng kỳ, đạt 2,4 tỷ USD; rau quả tăng 31% YoY, lên 1,2 tỷ USD; lúa mì với 54,6% YoY, lên 1,1 tỷ USD; ngô với 28,1% YoY, đạt 1,3 tỷ USD; đậu tương tăng 88% YoY, lên 810 triệu USD.
Kim ngạch nhập khẩu thịt và sản phẩm từ thịt tăng 39,6% YoY, lên 1,2 tỷ USD; sữa và sản phẩm sữa tăng 16,5% YoY, ở mức 673 triệu USD; sắn và sản phẩm từ sắn tăng 2,2% YoY, đạt 527 triệu USD. Thủy sản nhập khẩu lại giảm 1,6% YoY, xuống còn 1,2 tỷ USD.
Lê Hồng Nhung