Xung đột Trung Đông: Doanh nghiệp xuất khẩu cần xoay trục để 'né' rủi ro

Xung đột Trung Đông: Doanh nghiệp xuất khẩu cần xoay trục để 'né' rủi ro
6 giờ trướcBài gốc
Chia sẻ cùng VnBusiness, ông Nguyễn Tuấn Việt – Tổng Giám đốc Công ty TNHH Xúc tiến Xuất khẩu VIETGO, cho rằng với thời gian vận chuyển kéo dài lên đến 50 ngày, các mặt hàng nông sản tươi như chuối, thanh long sẽ không thể “chịu nổi nhiệt”. Vì vậy, doanh nghiệp (DN) cần xem xét tạm dừng hoặc chuyển hướng các mặt hàng này tại thị trường Đông Âu và các thị trường khác để tránh thua lỗ.
Ông Nguyễn Tuấn Việt – Tổng Giám đốc Công ty TNHH Xúc tiến Xuất khẩu VIETGO.
Thưa ông, tình hình xung đột tại Trung Đông được dự báo gây ảnh hưởng mạnh đến giao thương quốc tế. Trước bối cảnh trên, theo ông sẽ ảnh hưởng như thế nào đối với các DN xuất nhập khẩu (XNK) của Việt Nam?
Tình hình chiến tranh ở Trung Đông hiện nay đang ở mức rất căng thẳng, theo kinh nghiệm của chúng tôi khi theo sát các thị trường và trải qua những sự kiện lớn như dịch COVID 19, chiến tranh Nga, Ukraine hoặc là sóng thần, động đất và nhiều sự kiện khác,… cho thấy thời điểm này tương đối căng thẳng và nặng nề.
Phản ứng sau chiến tranh đối với thị trường, đã khiến các tuyến tàu biển đi Trung Đông bị ngừng trệ. Đến nay, chúng tôi ghi nhận là có rất nhiều hãng tàu đã dừng không nhận hàng đến Trung Đông, đặc biệt là vận chuyển hàng qua eo biển Hormuz.
Như vậy đồng nghĩa các tàu sẽ phải đi vòng qua mũi Hảo Vọng ở Nam Phi để đi vòng vào châu Âu với quãng đường tăng lên khoảng 6.400 km và thời gian sẽ tăng lên từ 15 đến 25 ngày cho từng tuyến tàu. Mặt khác, chúng tôi cũng ghi nhận trong nhiều cuộc khủng hoảng tương tự, thì thời gian mà các hãng tàu không hoạt động hoặc là không phục vụ sẽ trong khoảng thời gian từ 1 đến 3 tuần, sau đó sẽ hoạt động trở lại. Do đó, đây là thời điểm chúng ta cũng cần phải bình tĩnh để ghi nhận và tính toán.
Về phần cước vận chuyển, hiện nay tất cả các tuyến hàng hải đều đã có phụ phí chiến tranh, kể cả những tuyến không đi qua Trung Đông cũng đều bị tăng. Sở dĩ cước vận chuyển tăng, thứ nhất là do phải đi vòng giống như tôi vừa phân tích; Thứ 2, là các hãng tàu sẽ đều phải tính toán lại con đường đi của tàu và không thể đi ghép những hàng đến Trung Đông như trước, nên chi phí cố định của tàu sẽ bị chia đều cho những tuyến khác và làm cho các tuyến khác tăng.
Một lý do nữa, đó là khi chiến tranh ở Trung Đông sẽ làm cho giá dầu leo thang. Đây là nơi cung cấp dầu cho toàn thế giới nên khi giá dầu bị tăng, chi phí vận tải và logistics cũng tăng từ việc nguyên phụ liệu tăng.
Ông có thể cho biết những nhóm hàng chủ đạo Việt Nam xuất khẩu sang thị trường khu vực Trung Đông thời gian qua?
Tại thị trường khu vực Trung Đông, chúng ta ghi nhận có khoảng hơn 400 triệu dân. Đây được coi là một thị trường tương đối đông dân, tập trung nhiều nước giàu với mức chi trả cao trong khi gần như không có tiêu chuẩn khắt khe. Do đó, thời gian qua tỷ trọng hàng xuất khẩu sang Trung Đông của Việt Nam tăng trưởng rất mạnh.
Ô ng Nguyễn Tuấn Việt cho biết, thời gian qua tỷ trọng hàng Việt Nam xuất khẩu sang Trung Đông tăng trưởng mạnh, trong đó có các mặt hàng nông sản, trái cây tươi.
Có thể kể tới những mặt hàng xuất khẩu sang Trung Đông, như các loại than từ gỗ, gồm than đen, than mùn cưa, than gáo dừa,…Ngoài ra, là các loại trái cây, như dừa, chanh không hạt, thanh long, chuối, xoài,...
Khu vực này có cộng đồng người đạo hồi và người Ấn Độ di cư sang nên lượng gia vị như quế, hồi, thảo quả và ớt… được tiêu thụ ở khu vực này cũng rất mạnh. Bên cạnh đó, là các sản phẩm nông sản khô như tiêu, điều, cà phê.
Ngoài ra, đây cũng là thị trường tiêu thụ một lượng lớn các nhóm hàng tiêu dùng và vật liệu xây dựng. Đặc biệt, với các mặt hàng vật liệu xây dựng, nơi đây được coi là thị trường tiềm năng của Việt Nam.
Vậy theo ông, những mặt hàng nào sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất?
Sau khi chiến tranh nổ ra, những mặt hàng chịu ảnh hưởng nhiều nhất, đó là trái cây tươi hoặc những sản phẩm tươi không thể chịu được khi khoảng thời gian di chuyển tăng lên khá nhiều.
Ví dụ, với trái chuối, thanh long, ớt, xoài, chanh,… khi được bảo quản tốt có thể chịu được trong khoảng thời gian 25-35 ngày. Thời điểm chưa có chiến tranh, hàng hóa di chuyển đến Trung Đông mất khoảng 12-15 ngày, sau đó vẫn còn khoảng 10-20 ngày để tiêu thụ, đến tay người tiêu dùng.
Tuy nhiên, hiện nay thời gian di chuyển có thể lên tới 50 ngày, vòng đời của sản phẩm sẽ không đủ để đến tay người dùng. Do đó, đây là những sản phẩm sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng đầu tiên.
Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng, với các sản phẩm nông sản tươi, ở thời điểm thông thường các mặt hàng này được trồng, thu hoạch sau đó gom và vận chuyển theo các đơn đặt hàng từ trước đó.
Tuy nhiên, khi mà logistics bị đứt gãy, chắc chắn các sản phẩm sẽ bị ùn ứ ở Việt Nam; trong khi thị trường tiêu thụ tại Trung Đông lại thiếu thốn. Do đó, những người sản xuất, vận chuyển cần có sự lưu ý và tính toán phù hợp.
Nhóm thứ 2 chính là nhóm vật liệu xây dựng. Đây là nhóm hàng mà tiền cước sẽ chiếm phần lớn hoặc thậm chí tiền cước nhiều hơn tiền hàng.
Ví dụ như xi măng. Trước đây, một tấn xi măng giao tại cảng của Việt Nam có giá khoảng 41-42 USD/tấn, nhưng tiền cước khi sang đến Trung Đông lên tới hơn 30 USD/tấn.
Có nghĩa, nếu như giá vận tải tăng gấp đôi thì 1 tấn xi măng lúc này sẽ phải cõng thêm khoảng 60 USD trở lên cho tiền cước vận tải. Như vậy, tiền cước vận tải sẽ nhiều hơn tiền hàng, sẽ là bất hợp lý.
Ngoài ra, các mặt hàng khác như đá xây dựng, đã trộn bê tông,… tiền cước vận tải có thể đội lên gấp 10 lần tiền đá. Do đó, chuỗi cung ứng của những mặt hàng này sẽ bị đứt gãy và dừng lại ngay lập tức.
Với ngành hàng nông sản tươi, theo ông các DN cần có sự ứng phó cách nào để giảm thiệt hại?
Tôi cho rằng, trước mắt chúng ta cần có các biện pháp tuyên truyền đối với những những nhà cung cấp, những trang trại trồng trọt phục vụ các hợp đồng xuất khẩu thị trường Trung Đông nên tạm thời dừng lại để điều chỉnh nhằm giảm thiểu thiệt hại.
Thông thường, thị trường sẽ gián đoạn trong thời gian khoảng 2-3 tuần, sau khoảng thời gian đó, các DN cần theo dõi thị trường để tiếp tục có những sự điều chỉnh tiếp theo.
Sẽ có những DN lúng túng và vướng mắc trong việc thanh toán vận tải, đặc biệt là những DN có đối tác trong vùng chiến tranh, chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ tư vấn để các bạn không rơi vào tình huống rủi do, nguy hiểm như mất vốn hoặc bị trả lại hàng.
Trước tình hình khó khăn chung như trên, ông có kiến nghị, đề xuất gì tới các cơ quan chức năng để sớm có các giải pháp hỗ trợ và đồng hành cùng các DN?
Dù có những khó khăn chung, nhưng tôi tin rằng mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu hai con số và mốc 1 nghìn tỷ USD trong năm 2026 mà Chính phủ đề ra sẽ vẫn khả quan nếu chúng ta biết điều chỉnh, bởi “trong nguy sẽ có cơ”, điều quan trọng là chúng ta phải biết cách điều chỉnh danh mục mặt hàng xuất khẩu sao cho linh hoạt.
Trong thời điểm này, rất mong Chính phủ, các Bộ, ngành và các hiệp hội ngành hàng liên quan thường xuyên có những cảnh báo cũng như tuyên truyền, định hướng về thị trường, xu hướng tiêu dùng phù hợp trong thời kỳ chiến sự.
Chúng ta cần nhìn nhận dưới góc độ kinh tế thời kỳ xung đột, các mặt hàng xa xỉ phẩm chắc chắn sẽ tiêu thụ chậm lại hoặc đóng băng. Thay vào đó, nhu cầu thị trường sẽ tập trung mạnh vào nhóm hàng thiết yếu và hậu cần như nông sản và thực phẩm, bao gồm các loại đồ khô, lương thực có thể bảo quản lâu; Hàng quân nhu/hậu cần, như quần áo, giày, chăn, đồ nhựa, đồ y tế,… đây là các sản phẩm phục vụ trực tiếp cho sinh hoạt trong điều kiện khắc nghiệt, trong khi Việt Nam lại chiếm ưu thế cho các mặt hàng này.
Đây là lúc chúng ta cần bình tĩnh, phân tích kỹ lưỡng và chủ động thích ứng. Nếu nhìn đúng bản chất của sự chuyển dịch nhu cầu toàn cầu, DN Việt Nam không chỉ giữ được tăng trưởng mà còn mở rộng thị phần trong những phân khúc mới. Thách thức là có thật, nhưng cơ hội cũng rất rõ ràng cho những đơn vị biết xoay trục kịp thời
Xin trân trọng cảm ơn ông!
Hồng Hương thực hiện
Nguồn Vnbusiness : https://vnbusiness.vn/xung-dot-trung-dong-doanh-nghiep-xuat-khau-can-xoay-truc-de-ne-rui-ro.html