Xung đột Trung Đông: Nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng xăng dầu

Xung đột Trung Đông: Nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng xăng dầu
một giờ trướcBài gốc
Theo ông Nguyễn Việt Thắng, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) - đơn vị thành viên của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) cho biết, eo biển Hormuz hiện là tuyến vận tải năng lượng chiến lược quan trọng nhất thế giới, kết nối các nước sản xuất dầu chủ chốt khu vực Vùng Vịnh với thị trường tiêu thụ toàn cầu, đặc biệt là khu vực châu Á. Theo thống kê của EIA, khối lượng dầu và condensate đi qua khu vực này đạt khoảng 20 triệu thùng/ngày, tương đương gần 20% tổng tiêu thụ dầu toàn cầu và chiếm hơn 1/4 tổng thương mại dầu bằng đường biển.
Đáng chú ý, khoảng 84% dòng dầu qua Hormuz hướng tới thị trường châu Á, khiến khu vực này trở thành nơi chịu tác động trực tiếp và nhanh nhất khi có bất kỳ biến động nào xảy ra.
Mặc dù, các quốc gia xuất khẩu lớn như Saudi Arabia và UAE có hệ thống đường ống bypass (đường ống), tổng công suất thay thế chỉ khoảng 2,6 triệu thùng/ngày, tức không đủ để bù đắp nếu tuyến hàng hải bị gián đoạn nghiêm trọng.
Do đó, Hormuz không chỉ là vấn đề địa chính trị mà còn là yếu tố quyết định đến mức phụ phí giá dầu, chi phí logistics và bảo hiểm hàng hải, khả năng ổn định nguồn cung cho các nhà máy lọc dầu châu Á.
Xung đột tại Trung Đông, nhu cầu đối với dầu thô nội địa sẽ gia tăng, dẫn đến cạnh tranh gay gắt trong các đợt đấu thầu quốc tế mua dầu thô Việt Nam.
Theo số liệu từ Cục Hải quan, năm 2025 Việt Nam nhập khẩu 9,9 triệu tấn xăng dầu các loại, với kim ngạch khoảng 6,8 tỷ USD. Trong cơ cấu này, diesel chiếm tỷ trọng lớn nhất với khoảng 3,3 tỷ USD; xăng khoảng 1,6 tỷ USD, nhiên liệu bay hơn 1,5 tỷ USD, và dầu mazut.
Cùng với xăng dầu thành phẩm, LPG đạt khoảng 3,6 triệu tấn, trị giá 2,1 tỷ USD trong cả năm. Ở nhóm dầu thô, lượng nhập khẩu lên tới 14,1 triệu tấn, với kim ngạch khoảng 7,7 tỷ USD. Như vậy, riêng ba nhóm năng lượng chủ chốt này đã tiêu tốn xấp xỉ 17 tỷ USD trong năm 2025, cho thấy mức độ phụ thuộc đáng kể của Việt Nam vào nguồn cung bên ngoài, dù trong nước vẫn có sản xuất và chế biến.
Hiện nay, hai nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn (Thanh Hóa) và Bình Sơn (Dung Quất, Quảng Ngãi) đóng vai trò cốt lõi, cung ứng khoảng 72-80% nhu cầu xăng dầu trong nước, đóng vai trò “tấm đệm” quan trọng trước cú sốc bên ngoài. Tuy nhiên, để duy trì công suất, cả hai nhà máy đều phải nhập khẩu một lượng dầu thô đáng kể.
Riêng năm ngoái, Việt Nam đã nhập khẩu hơn 10 triệu tấn dầu thô từ Kuwait, với kim ngạch hơn 6 tỷ USD, chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng lượng dầu thô nhập khẩu. Do đó, khi khu vực Vịnh Ba Tư hoặc tuyến vận tải qua eo biển Hormuz xảy ra gián đoạn, tác động đối với nguồn dầu thô của Việt Nam sẽ trực diện và đáng kể.
Về ảnh hưởng của xung đột tại Trung Đông đối với công tác mua dầu thô và nguyên liệu nhập khẩu của BSR, ông Nguyễn Việt Thắng cho biết, hiện Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đang sử dụng khoảng 30-35% dầu thô nguyên liệu nhập khẩu, chủ yếu từ Tây Phi, khu vực Địa Trung Hải, Mỹ và một phần từ Trung Đông. Vì vậy, nếu xung đột tại Trung Đông kéo dài, giá dầu, phụ phí, cước vận chuyển và phí bảo hiểm có thể tiếp tục tăng mạnh, làm gia tăng đáng kể chi phí đầu vào và rủi ro tài chính.
Ngay từ đầu năm 2026, nhằm chuẩn bị cho mục tiêu tăng trưởng hai con số và chủ động ứng phó với các tình huống bất thường của thế giới cũng như tác động của biến đổi khí hậu, BSR đã chủ động nâng mức tồn kho, điều hành sản xuất linh hoạt theo nhu cầu thị trường và đa dạng hóa nguồn nguyên liệu.
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Công Thương và Petrovietnam, BSR đã ký thỏa thuận cung cấp dầu thô với hai tập đoàn năng lượng lớn của Mỹ là ExxonMobil và Chevron nhằm bảo đảm nguồn cung ổn định và góp phần giảm chênh lệch cán cân thương mại Việt Nam - Mỹ. Trong giai đoạn tháng 3-5/2026, BSR đã ký hợp đồng mua khoảng 3 triệu thùng dầu thô nhập khẩu (Qua Iboe, Bu Attifel, Medanito và Palanca Blend). Mặc dù các nguồn này không thuộc khu vực xung đột trực tiếp, căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông vẫn có thể tác động gián tiếp đến tiến độ giao hàng, chi phí vận tải, bảo hiểm và an toàn hàng hải.
Đáng chú ý, với nhu cầu mua bổ sung theo hợp đồng chuyến trong tháng 5/2026 ước khoảng 900 nghìn đến 1 triệu thùng và tháng 6/2026 khoảng 1 đến 1,3 triệu thùng, việc vận hành nhà máy ở mức 118-120% công suất sẽ chịu áp lực lớn về giá cả và khả năng tiếp cận nguồn hàng.
Trong tháng 2 vừa qua, BSR đã triển khai mua cấu tử xăng có trị số octane cao để phối trộn. Tuy nhiên, do nguồn cung khan hiếm và thị trường biến động mạnh, BSR chưa thể mua đủ khối lượng theo kế hoạch, ảnh hưởng đến phương án gia tăng chế biến trong tháng 3/2026. Để đạt công suất quy đổi tối thiểu 120% (bao gồm dầu thô và nguyên liệu trung gian), BSR đang nỗ lực tìm kiếm và mua bổ sung nguồn nguyên liệu trong tháng 3-4/2026, làm gia tăng áp lực mua hàng trong bối cảnh thị trường bất lợi.
Hiện tại, nguồn cung xăng dầu trong nước ổn định.
Theo ông Thắng, điều lo ngại với xung đột hiện tại là trong kịch bản xung đột kéo dài trên một tháng, mặt bằng giá dầu thế giới có thể tăng rõ rệt, thậm chí một số đánh giá đã đặt ra khả năng quay lại vùng trên 100 USD/thùng nếu nguồn cung bị gián đoạn nghiêm trọng. Cùng với đó, còn ảnh hưởng gián tiếp tới tiến độ giao hàng, chi phí vận tải và bảo hiểm, và khả năng gián đoạn chuỗi cung ứng khi một số quốc gia có thể ưu tiên nhu cầu nội địa, hạn chế xuất khẩu, trong khi thị trường vận tải biển và bảo hiểm biến động mạnh khiến thời gian giao hàng kéo dài.
Những yếu tố này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch vận hành nhà máy, đặc biệt trong giai đoạn cuối quý II và đầu quý III/2026.
"Thực tế cho thấy, khi xảy ra bất ổn địa chính trị và xung đột tại Trung Đông, nhu cầu đối với dầu thô nội địa sẽ gia tăng, dẫn đến cạnh tranh gay gắt trong các đợt đấu thầu quốc tế mua dầu thô Việt Nam", ông Thắng cho hay.
Để giảm thiểu nguy cơ thiếu hụt dầu thô nguyên liệu khiến Nhà máy Lọc dầu Dung Quất phải điều chỉnh giảm công suất hoặc không hoàn thành kế hoạch được giao, BSR đã kiến nghị các cấp có thẩm quyền và Petrovietnam xem xét cơ chế ưu tiên cho BSR được mua tối đa dầu thô và condensate khai thác trong nước. Đồng thời, cơ quan quản lý cần áp dụng cơ chế tạm thời ưu tiên dầu thô nội địa cho Nhà máy Lọc dầu Dung Quất để chế biến xăng dầu thành phẩm, cũng như hạn chế xuất khẩu dầu thô nội địa trong giai đoạn cao điểm rủi ro (đến hết quý III/2026 hoặc đến khi thị trường quốc tế ổn định), nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Đặc biệt, để bảo đảm đủ dầu phục vụ vận hành trong tháng 5-6/2026, BSR đề nghị được phép mua trực tiếp dầu thô từ các lô Ruby, Bunga Orkid (BO) và Chim Sáo giao trong giai đoạn này theo mức giá chào thầu cao nhất của kỳ gần nhất, như một giải pháp tình thế nhằm bảo đảm nguồn cung kịp thời trong bối cảnh thị trường biến động mạnh.
Theo bà Nguyễn Thúy Hiền, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương, cơ quan quản lý đã rà soát tổng nguồn, tồn kho và năng lực sản xuất của các nhà máy lọc dầu trong nước để chủ động phương án điều hành. Theo bà Hiền, Nhà máy Lọc hóa dầu Bình Sơn hiện chủ yếu nhập khẩu nguồn dầu thô từ Mỹ, Brazil và một số thị trường khác nên ít ảnh hưởng. Với lượng nguyên liệu đã ký và đang trên đường vận chuyển, Lọc hóa dầu Bình Sơn cơ bản bảo đảm đủ dầu thô cho sản xuất đến hết tháng 4. Trong trường hợp căng thẳng kéo dài, doanh nghiệp cũng đã chủ động tìm kiếm thêm nguồn thay thế.
Đối với Nhà máy Lọc dầu Nghi Sơn, do nguồn cung nhập từ Kuwait, đi qua khu vực eo biển Homuz nên có tác động nhất định. Tuy nhiên, trong tháng 3 đã có ba lô hàng về an toàn, đi qua khu vực nguy hiểm và đang trên đường cập cảng. Với lượng dầu đang về và tồn kho hiện có, Nghi vẫn đủ nguyên liệu để sản xuất hết tháng 3. Tuy nhiên, nếu chiến sự kéo dài sang tháng 4 thì sẽ có áp lực, do đó doanh nghiệp đang chủ động nhập khẩu bổ sung và tìm kiếm các nguồn thay thế.
Lưu Hiệp
Nguồn CAND : https://cand.com.vn/kinh-te/xung-dot-trung-dong-nguy-co-gian-doan-chuoi-cung-ung-xang-dau-i798433/