Xung đột Trung Đông và những tác động: Doanh nghiệp kích hoạt 'bộ giải pháp kép' (Bài 2)

Xung đột Trung Đông và những tác động: Doanh nghiệp kích hoạt 'bộ giải pháp kép' (Bài 2)
2 giờ trướcBài gốc
Áp lực dồn dập từ nguyên liệu, logistics đến thị trường
Chia sẻ bên lề với Doanh Nhân Sài Gòn, ông Trần Việt Anh - Tổng giám đốc Công ty CP xuất nhập khẩu Nam Thái Sơn cho rằng, diễn biến địa chính trị tại Trung Đông đang tác động nhanh và trực tiếp đến cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là khối xuất nhập khẩu khi các tuyến vận tải qua eo biển Hormuz chịu ảnh hưởng. Tác động không chỉ dừng lại ở logistics mà lan rộng sang chi phí đầu vào và thị trường tiêu thụ trong nước.
“Tốc độ tác động của đợt khủng hoảng lần này rất nhanh và mang tính đột ngột cao. Nhiều doanh nghiệp đã từng trải qua các biến động trước đây và có kinh nghiệm nhất định, tuy nhiên với diễn biến hiện nay, việc thích ứng vẫn gặp nhiều thách thức. Ảnh hưởng không chỉ dừng ở doanh nghiệp xuất nhập khẩu mà còn lan sang doanh nghiệp nội địa, tác động đến chi phí đầu vào, vận chuyển và cả thị trường tiêu thụ”, ông Việt Anh thông tin.
Theo ông Việt Anh, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở nguồn nguyên liệu, đặc biệt là các sản phẩm hóa dầu phục vụ ngành nhựa, sơn, xi mạ và nhiều lĩnh vực sản xuất. Việc gián đoạn nguồn cung khiến doanh nghiệp gặp khó trong việc duy trì kế hoạch sản xuất, nhất là khi nhiều nhà cung cấp viện dẫn yếu tố bất khả kháng để hủy hợp đồng.
“Khó khăn hiện nay nằm ở việc doanh nghiệp không chủ động được nguồn cung nguyên liệu. Với nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc mua nguyên liệu theo tuần khiến tác động diễn ra ngay lập tức. Một số doanh nghiệp có dự trữ nguyên liệu trong vài tháng nên duy trì được hoạt động sản xuất trong ngắn hạn. Sự khác biệt về mức dự trữ tạo ra khoảng cách lớn về khả năng duy trì sản xuất giữa các doanh nghiệp”.
Áp lực này càng rõ nét khi giá nguyên liệu tăng mạnh trong thời gian ngắn, trong khi thị trường tiêu thụ chưa kịp thích ứng với mức giá mới. Doanh nghiệp rơi vào tình trạng chi phí đầu vào tăng nhanh trong khi đầu ra khó điều chỉnh tương ứng.
Ở góc độ ngành hàng tiêu dùng, bà Lê Thị Giàu - Chủ tịch HĐQT Công ty CP Thực phẩm Bình Tây (Bình Tây Food) cho biết chi phí đầu vào đang gia tăng trên diện rộng, đặc biệt là các nguyên liệu liên quan đến dầu mỏ và bao bì.
“Hiện nay, nhiều yếu tố đầu vào đều tăng giá, đặc biệt là những nguyên liệu liên quan đến dầu, khí và các sản phẩm hóa dầu như nhựa. Bao bì cũng tăng theo, kéo theo chi phí sản xuất tăng đáng kể. Nhìn chung, mặt bằng giá các sản phẩm và dịch vụ đều tăng khoảng 20-30%. Đây là áp lực rất lớn đối với doanh nghiệp sản xuất, nhất là trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động”.
Theo bà Giàu, với những ngành phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu, biến động chi phí có thể kéo dài nếu tình hình chưa sớm ổn định. Điều này buộc doanh nghiệp phải tính toán lại cơ cấu giá thành và kế hoạch sản xuất.
Chia sẻ trong khuôn khổ sự kiện Cafe HUBA số 87, ông Đào Trọng Khoa - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) cho biết, biến động hiện nay đang gây xáo trộn nghiêm trọng đối với các tuyến vận tải quốc tế, đặc biệt là hành lang châu Á - châu Âu. Nếu trước đây, hành trình từ Việt Nam hoặc Singapore sang châu Âu chỉ mất khoảng 10-15 ngày thì hiện nay có thể kéo dài gấp ba lần do tàu phải đổi hướng, tránh các khu vực xung đột.
Việc kéo dài thời gian vận chuyển không chỉ làm gián đoạn chuỗi cung ứng mà còn kéo theo chi phí tăng mạnh. Hàng loạt phụ phí liên quan đến chiến tranh và rủi ro vận hành được áp dụng, khiến kỳ vọng giảm giá cước vận tải trong năm 2026 bị đảo ngược hoàn toàn. Thay vì giảm khoảng 30% như dự báo trước đó, chi phí vận chuyển hiện đang đối mặt nguy cơ tăng trở lại.
Ở lĩnh vực hàng không, tác động còn rõ rệt hơn. Việc đóng cửa không phận tại một số khu vực Trung Đông buộc nhiều hãng phải cắt giảm hoặc tạm dừng khai thác. Dù một số đường bay đã được nối lại, công suất mới chỉ phục hồi 20-60%, khiến năng lực vận chuyển sụt giảm mạnh trong khi nhu cầu không giảm tương ứng. Hệ quả là giá cước hàng không tăng từ 1,5-2 lần.
Tại Việt Nam, tình trạng thiếu hụt tải hàng không xuất hiện gần như ngay lập tức. Chỉ trong hai ngày đầu khi không phận bị gián đoạn, thị trường đã thiếu gần 900 tấn hàng hóa vận chuyển. Việc các hãng hàng không Trung Đông vốn chiếm tỷ trọng đáng kể bị gián đoạn đã kéo giảm khoảng 20% công suất và đẩy giá cước tăng 50-70%.
Không chỉ vận tải hàng không, chi phí logistics nói chung đều chịu áp lực gia tăng. Giá nhiên liệu tăng kéo theo chi phí vận tải đường biển, đường bộ và đường thủy đồng loạt đi lên. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, nhiều doanh nghiệp vận tải buộc phải kìm giá để giữ khách, chấp nhận chia sẻ chi phí, khiến biên lợi nhuận ngày càng bị bào mòn.
“Rủi ro lớn nhất không nằm ở chi phí, mà ở tính bất định của thị trường. Khi không thể dự báo giá cước và thời gian vận chuyển, doanh nghiệp buộc phải vận hành trong trạng thái rủi ro cao, liên tục điều chỉnh kế hoạch sản xuất - kinh doanh”, ông Khoa nhận định.
Khảo sát của VLA cho thấy mức độ ảnh hưởng là rất rộng. Có tới 89,8% doanh nghiệp logistics đang chịu tác động từ trung bình đến đặc biệt nghiêm trọng. Vấn đề lớn nhất không chỉ là chi phí tăng nhanh, mà là việc không thể dự báo trước.
Có tới 89,8% doanh nghiệp logistics đang chịu tác động từ trung bình đến đặc biệt nghiêm trọng. Ảnh: Văn Trung
Ở góc độ ngành dệt may, ông Phạm Văn Việt - Phó Chủ tịch thường trực Hội Dệt may Thời trang TP.HCM cho biết ngành đang chịu “tác động kép”. Sức mua tại các thị trường lớn suy giảm trong khi chi phí đầu vào tăng mạnh, với nguyên liệu có nguồn gốc từ dầu mỏ tăng 8-18%. Đồng thời, chi phí logistics leo thang, đặc biệt là cước container tăng mạnh, càng gia tăng áp lực.
Với đặc thù phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu (chiếm 52-75% giá thành) biến động hiện nay đang trực tiếp bào mòn lợi nhuận của doanh nghiệp. Trong khi đó, hơn 55% kim ngạch xuất khẩu vẫn tập trung vào Mỹ và châu Âu, khiến ngành dễ bị tổn thương khi chi phí tăng cao và nhu cầu suy yếu.
Đáng lo ngại hơn, đặc thù sản xuất theo mùa khiến dệt may khó xoay xở hơn các ngành khác. Khi chi phí tăng đột biến, doanh nghiệp buộc phải chia nhỏ đơn hàng để giảm rủi ro, nhưng điều này cũng đồng nghĩa với nguy cơ trễ tiến độ và mất đơn hàng.
Giữ giá, tái cấu trúc và mở rộng thị trường
Trước áp lực gia tăng, các doanh nghiệp đang triển khai nhiều giải pháp nhằm duy trì hoạt động và giảm thiểu rủi ro.
Ông Việt Anh cho rằng, ngoài việc tự điều chỉnh, doanh nghiệp cần có sự hỗ trợ từ môi trường chính sách, đặc biệt trong việc kiểm soát thị trường nguyên liệu và cung cấp thông tin kịp thời.
“Cần có sự vào cuộc của cơ quan quản lý để kiểm soát hiện tượng đầu cơ và găm hàng, bảo đảm thị trường vận hành ổn định. Nguyên liệu là đầu vào thiết yếu nên biến động giá tác động trực tiếp đến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Khi giá bị đẩy lên cao, doanh nghiệp buộc phải chấp nhận để duy trì đơn hàng, từ đó hình thành mặt bằng giá mới trên thị trường”.
Các doanh nghiệp đang cơ cấu lại giá thành, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và tổ chức lại hoạt động để kiểm soát chi phí
Ông cũng nhấn mạnh vai trò của liên kết ngành và xây dựng năng lực dự trữ nguyên liệu như một giải pháp dài hạn. “Doanh nghiệp cần được tiếp cận thông tin kịp thời, minh bạch về tình hình vận tải và chuỗi cung ứng để chủ động kế hoạch sản xuất - kinh doanh. Các hiệp hội ngành nghề cần phối hợp thống kê năng lực dự trữ nguyên liệu và xây dựng các kịch bản ứng phó theo từng cấp độ rủi ro. Doanh nghiệp cần tăng cường liên kết và chủ động dự trữ, bởi nguồn nguyên liệu sẵn có giúp duy trì hoạt động và tạo nền tảng ổn định trong giai đoạn biến động”.
Ở góc độ doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, bà Giàu lựa chọn hướng đi tập trung vào ổn định thị trường song song với tối ưu nội lực. Theo bà, doanh nghiệp đang cơ cấu lại giá thành, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và tổ chức lại hoạt động để kiểm soát chi phí, đồng thời duy trì sản xuất và việc làm cho người lao động.
“Sản phẩm của chúng tôi là hàng nhu yếu phẩm nên trong suốt thời gian qua, kể cả giai đoạn khó khăn như dịch bệnh, doanh nghiệp vẫn giữ ổn định giá bán, không tăng theo biến động thị trường. Hiện nay, dù chi phí đầu vào tăng, chúng tôi cũng không muốn lợi dụng tình hình để điều chỉnh giá. Doanh nghiệp chấp nhận cân đối lại hoạt động, duy trì sản xuất và thu nhập cho người lao động. Trong giai đoạn này, mục tiêu là giữ ổn định, tiếp tục cung ứng hàng hóa thiết yếu và chờ thị trường dần cân bằng trở lại”, bà giàu chia sẻ.
Trong khi đó, ông Phạm Văn Việt cho biết doanh nghiệp dệt may đang chủ động điều chỉnh chiến lược thị trường và phương thức sản xuất để giảm thiểu rủi ro.
Cụ thể, doanh nghiệp tăng cường khai thác thị trường ASEAN như một hướng thay thế trong bối cảnh thị trường Mỹ và châu Âu suy yếu. Đồng thời, các đơn hàng lớn được chia nhỏ để linh hoạt hơn trong sản xuất và giảm áp lực tồn kho.
Ông cũng cho biết sau giai đoạn tồn đọng kéo dài từ dịch bệnh, đầu năm nay nhiều doanh nghiệp mới giải quyết được lượng hàng tồn, nên dư địa tài chính không còn nhiều để hấp thụ thêm cú sốc chi phí.
Từ thực tế của các ngành sản xuất, hàng tiêu dùng và dệt may, có thể thấy doanh nghiệp đang từng bước hình thành một “bộ giải pháp kép”, kết hợp giữa tự điều chỉnh nội lực và mở rộng không gian thị trường, đồng thời tăng cường liên kết để nâng cao khả năng chống chịu. Trong ngắn hạn, bài toán chi phí và nguồn cung nguyên liệu vẫn sẽ là thách thức lớn. Về dài hạn, năng lực dự trữ, khả năng liên kết ngành và mức độ đa dạng hóa thị trường sẽ quyết định sức chống chịu của doanh nghiệp trước những biến động tương tự.
Và trong bối cảnh nhiều bất định, khả năng thích ứng linh hoạt, chủ động dự trữ và đa dạng hóa thị trường sẽ tiếp tục là những yếu tố then chốt quyết định sức bền của doanh nghiệp trong thời gian tới.
Thanh Ngân - Hưng Khánh
Nguồn DNSG : https://doanhnhansaigon.vn/xung-dot-trung-dong-va-nhung-tac-dong-doanh-nghiep-kich-hoat-bo-giai-phap-kep-bai-2-334865.html