Tại làng Teng huyện núi Ba Tơ trước đây, đồng bào Hrê đều ở nhà sàn, chúng tôi cứ tưởng bà con sẽ mãi lưu giữ nếp nhà như thế. Không ngờ qua thời gian, nhiều bà con đã dỡ dọn, xây nhà xi măng hết cả.
Hỏi sao không lưu giữ nhà sàn, bà con đều bảo không còn gỗ cây để làm, nay lại có tài sản, tiền bạc trong nhà thì làm sao giữ, làm nhà sàn lại đắt và mất công hơn nhà xây, nên xây nhà là tiện nhất.
Hay như y phục dân tộc là chuyện dễ hơn cái nhà sàn rất nhiều, nói cho đúng là người ta không quá khó để mua sắm và mặc. Nhưng rồi cũng thấy lác đác người mặc, chủ yếu là người già, còn lớp trẻ phần nhiều ưa chuộng quần áo “tân thời”. Cái khó của việc bảo tồn nếp nhà sàn cũng như y phục dân tộc là nó thuộc quyền của cá nhân, không ai ép buộc được. Mặc gì và ở thế nào là quyền của từng người. Vậy nên vấn đề ở đây chính là nhận thức cá nhân, của nhiều cá nhân trong một tổng thể xã hội.
Nếu quan sát tổng thể xã hội thì thấy ở người Kinh lẫn đồng bào dân tộc thiểu số đều dùng âu phục rất nhiều. Với người Kinh, một thời gian dài người ta gần như “quên” áo dài khăn đóng của nam, áo dài của nữ. Nhưng trong thời gian gần đây, “phong trào áo dài”, nhất là trong dịp lễ tết, đã trở lại. Giám đốc Sở VHTTDL TP Huế Phan Thanh Hải là người luôn nhiệt tình cổ súy mặc áo dài và tự ông cũng mặc áo dài rất đẹp, trông rất lịch lãm (tất nhiên cũng nhờ con người đẹp).
Tết Bính Ngọ 2026 thiên hạ rục rịch mặc áo dài. Cộng đồng xã hội sau khi “phiêu lưu” với nhiều kiểu ăn mặc, nhiều người nhận thức lại về vẻ đẹp của y phục dân tộc. Có lần người viết thấy nhiều cụ bà quê Bắc Ninh mặc áo tứ thân, màu bã trầu, đầu vấn khăn đen, thấy quả là đẹp. Giá như các cô gái trẻ đẹp mặc các y phục kiểu này ắt hẳn các cô sẽ đằm thắm hơn nhiều. Cái đẹp của y phục dân tộc đã sàng lọc qua biết bao thời gian mới có được. Nó khác với cái đẹp của mode, thay đổi luôn luôn. Ở đồng bào thiểu số cũng vậy. Đến Sơn La chúng tôi thích nhất ra phố nhìn đồng bào Thái diện y phục dân tộc của mình đi làm, đi dạo, hơn là thấy họ mặc quần áo “tân thời”, dù cái nào cũng đẹp.
Lại nghĩ xưa kia mỗi dân tộc gần như hình thành một lối y phục riêng, nhờ vậy đến nay ta có một “bộ sưu tập” y phục dân tộc vô cùng phong phú. Nhưng sao mỗi dân tộc lại có kiểu y phục? Là vì mỗi dân tộc có môi trường tự nhiên, trình độ xã hội phát triển không hoàn toàn giống nhau. Cũng là vì mặc khác nhau để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, không lẫn vào nhau.
Khi ra nước ngoài, nếu ta dùng Âu phục hẳn người ta không phân biệt người Việt với các dân tộc khác ở Á Đông. Cũng như vậy, nếu cùng mặc Âu phục, thì các dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam cũng sẽ khó phân biệt với nhau. Đó là xét theo chiều đồng đại. Ở chiều lịch đại, mặc y phục dân tộc chính là ý thức về sự kế thừa, kết nối. Người ta mặc là để che thân, để làm đẹp, nhưng thiêng liêng cao quý hơn chính là để ta nhớ về cội nguồn, tri ân các thế hệ trước đã sáng tạo và lưu truyền lại văn hóa trang phục.
Người viết đồ rằng do chưa hiểu hết ý nghĩa của y phục dân tộc mà nhiều người không chú ý đến nó, dẫn đến văn hóa trang phục có nguy cơ nghèo đi. Khi ta dùng Âu phục không ai bảo ta không dùng y phục dân tộc. Nói cho đúng thì nó không phải loại trừ nhau, mà có thể song song tồn tại. Người ta có thể sắm y phục kiểu mới, đồng thời cũng sắm y phục dân tộc. Những lúc đi làm có thể mặc y phục mới, mà lúc lễ tết có thể dùng y phục dân tộc, để thể hiện niềm tự hào về dân tộc mình, để nhớ nguồn cội của mình. Người làm công tác bảo tồn văn hóa cũng nên trao đổi với các cộng đồng ý nghĩa ấy để mọi người cùng hiểu và làm theo.
Có khó gì đâu. Nhưng mà khó, vì nó là sự lay chuyển ý thức con người.
MINH TUỆ