10 thủ tục hành chính mới về bảo hiểm thất nghiệp
Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ký ban hành Quyết định số 107/QĐ-BNV về việc công bố các thủ tục hành chính mới ban hành và thủ tục hành chính bị bãi bỏ theo quy định tại Nghị định số 374/2025/NĐ-CP của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm năm 2025 về bảo hiểm thất nghiệp.
Theo Quyết định số 107/QĐ-BNV, Bộ Nội vụ công bố kèm theo Phụ lục danh mục các thủ tục hành chính mới ban hành trong lĩnh vực việc làm thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ.
10 thủ tục hành chính mới về bảo hiểm thất nghiệp, gồm:
- Thủ tục tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
- Thủ tục hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm.
- Thủ tục hỗ trợ người lao động tham gia đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề.
- Thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp.
- Thủ tục thông báo hàng tháng về việc tìm kiếm việc làm.
- Thủ tục tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp.
- Thủ tục tiếp tục hưởng trợ cấp thất nghiệp.
- Thủ tục chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp.
- Thủ tục chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp.
- Thủ tục hỗ trợ người sử dụng lao động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động.
Trong số 10 thủ tục hành chính cấp tỉnh này, chỉ riêng thủ tục tham gia bảo hiểm thất nghiệp có đơn vị thực hiện là cơ quan bảo hiểm xã hội. Còn 9 thủ tục hành chính còn lại do Sở Nội vụ, Tổ chức dịch vụ việc làm công thực hiện.
Quyết định số 107/QĐ-BNV cũng quy định nội dung cụ thể của từng thủ tục hành chính về: Trình tự, cách thức thực hiện; Thành phần, số lượng hồ sơ; Thời hạn giải quyết; Đối tượng thực hiện, cơ quan giải quyết; Kết quả, yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính; Căn cứ pháp lý cùng các mẫu hồ sơ đi kèm.
Văn bản của Bộ Nội vụ cũng bãi bỏ các quyết định: số 315/QĐ-BNV ngày 04/4/2025 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung lĩnh vực việc làm thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Nội vụ; số 990/QĐ-BNV ngày 04/9/2025 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc công bố 6 thủ tục hành chính về bảo hiểm thất nghiệp triển khai thí điểm trên Cổng Dịch vụ công quốc gia thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Nội vụ.
Theo đó, bãi bỏ một số thủ tục hành chính về lĩnh vực việc làm thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của cơ quan này. Cụ thể là các thủ tục hành chính cấp tỉnh gồm:
Tham gia bảo hiểm thất nghiệp;
Giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp;
Tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp;
Tiếp tục hưởng trợ cấp thất nghiệp;
Chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp;
Chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp (chuyển đi);
Chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp (chuyển đến);
Giải quyết hỗ trợ học nghề;
Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm;
Thông báo về việc tìm kiếm việc làm;
Giải quyết hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động;
Liên thông chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp (Chuyển đi - Chuyển đến).
Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 107/QĐ-BNV quy định về việc công bố các thủ tục hành chính liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp. Ảnh minh họa: TL
Đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp
Theo khoản 1 Điều 31 Luật Việc làm 2025, các đối tượng dưới đây bắt buộc phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Cụ thể, gồm người làm việc theo:
- Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
- Hợp đồng xác định thời hạn từ 01 tháng trở lên (thay vì 3 tháng trở lên như trước).
- Người làm việc không trọn thời gian, có tiền lương từ mức tối thiểu trở lên.
- Các chức danh quản lý hưởng lương:
- Quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên;
- Thành viên HĐQT, Tổng giám đốc, Giám đốc, người đại diện phần vốn;
- Thành viên Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên hợp tác xã, liên hiệp HTX...
Mức đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động được quy định thế nào?
Theo Điều 33, Luật Việc làm 2025, mức đóng và trách nhiệm đóng bảo hiểm thất nghiệp được quy định như sau:
- Người lao động đóng tối đa bằng 1% tiền lương tháng;
- Người sử dụng lao động đóng tối đa bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp;
- Nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp và do ngân sách trung ương bảo đảm.
Hằng tháng, người sử dụng lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo mức quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và trích tiền lương của từng người lao động theo mức quy định tại điểm a khoản 1 Điều này để đóng cùng một lúc vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Đối với người lao động quy định tại điểm a khoản 1 Điều 31 của Luật này hưởng tiền lương theo sản phẩm, theo khoán tại doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, hộ kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp thì người sử dụng lao động đăng ký với cơ quan bảo hiểm xã hội và thực hiện đóng bảo hiểm thất nghiệp hằng tháng, 03 tháng hoặc 06 tháng một lần. Thời hạn đóng chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng tiếp theo ngay sau chu kỳ đóng.
Thời điểm đóng bảo hiểm thất nghiệp của người sử dụng lao động và người lao động là thời điểm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Người lao động không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không phải đóng bảo hiểm thất nghiệp của tháng đó.
Người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp. Việc xử lý hành vi chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội.
Người sử dụng lao động được giảm tiền đóng bảo hiểm thất nghiệp thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động phải đóng cho người lao động là người khuyết tật trong thời gian không quá 12 tháng khi tuyển mới và sử dụng người lao động là người khuyết tật.
Người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định đối với người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc để kịp thời giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.
Trường hợp người sử dụng lao động không đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động thì phải trả khoản tiền tương ứng với các chế độ bảo hiểm thất nghiệp mà người lao động được hưởng theo quy định của pháp luật.
Nhà nước chuyển kinh phí hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Chính phủ quy định chi tiết các khoản 1, 6, 7 và 8 Điều này.
Theo các quy định nêu trên, người lao động đóng mức bảo hiểm thất nghiệp tối đa bằng 1% tiền lương tháng.