2026 - Năm bản lề cho kỳ vọng bứt phá của kinh tế Việt Nam

2026 - Năm bản lề cho kỳ vọng bứt phá của kinh tế Việt Nam
7 giờ trướcBài gốc
Giữ nhịp phục hồi trong bối cảnh nhiều biến động
Năm 2025 khép lại với nhiều dấu ấn quan trọng, đánh dấu chặng cuối của Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021–2025. Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động mạnh, xung đột địa chính trị kéo dài, thương mại toàn cầu phân mảnh và rủi ro tài chính gia tăng, kinh tế Việt Nam vẫn giữ được nhịp phục hồi vững chắc, các cân đối lớn được bảo đảm, tạo nền tảng quan trọng cho giai đoạn phát triển tiếp theo.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, đến ngày 15/12/2025, dự kiến 22/26 chỉ tiêu kinh tế – xã hội chủ yếu của giai đoạn 2021–2025 đạt và vượt kế hoạch. Đáng chú ý, toàn bộ các chỉ tiêu về xã hội và an sinh xã hội đều hoàn thành vượt mức, phản ánh nỗ lực lớn của Nhà nước trong bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. Riêng hai năm 2024 và 2025, nền kinh tế đạt và vượt 100% số chỉ tiêu (15/15) được Quốc hội giao, phản ánh rõ nét xu hướng phục hồi và ổn định vững chắc sau giai đoạn nhiều biến động.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động mạnh, kinh tế Việt Nam vẫn giữ được nhịp phục hồi vững chắc, các cân đối lớn được bảo đảm. (Ảnh minh họa: KT)
Năm 2025, GDP của Việt Nam ước tăng trên 8%, đưa tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm lên 6,3%. Nếu loại trừ năm 2021 – thời điểm chịu tác động nặng nề của đại dịch COVID-19 – tăng trưởng giai đoạn 2022–2025 đạt bình quân 7,2%, vượt mục tiêu đề ra. Đây là kết quả cho thấy sức chống chịu và khả năng phục hồi đáng kể của nền kinh tế trong bối cảnh quốc tế nhiều bất định.
GDP bình quân đầu người năm 2025 ước đạt khoảng 5.000 USD, tăng 1,4 lần so với năm 2020, qua đó đưa Việt Nam chính thức gia nhập nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao. Lạm phát tiếp tục được kiểm soát hiệu quả, duy trì dưới 4% trong suốt nhiệm kỳ, riêng năm 2025 ước khoảng 3,5%, tạo dư địa thuận lợi cho điều hành chính sách và củng cố niềm tin thị trường.
Bức tranh ngân sách nhà nước năm 2025 phản ánh rõ nét xu hướng phục hồi thực chất của nền kinh tế. Thu ngân sách đến giữa tháng 12/2025 đạt khoảng 2,47 triệu tỷ đồng, vượt hơn 25% dự toán và tăng mạnh so với cùng kỳ. Cơ cấu thu tiếp tục chuyển dịch theo hướng bền vững hơn, với nguồn thu chủ yếu đến từ sản xuất – kinh doanh, thay vì các khoản thu mang tính ngắn hạn.
Trong khi đó, Nhà nước vẫn dành nguồn lực rất lớn để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân thông qua các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, với tổng quy mô khoảng 1,1 triệu tỷ đồng trong cả giai đoạn. Ở chiều chi, ngân sách được cơ cấu lại theo hướng giảm chi thường xuyên, tiết kiệm chi hành chính, đồng thời tăng chi cho đầu tư phát triển và an sinh xã hội. Tỷ trọng chi đầu tư phát triển tăng lên 32–33% tổng chi ngân sách, trong khi bội chi và nợ công tiếp tục được kiểm soát trong giới hạn an toàn.
Thị trường tài chính – đầu tư khởi sắc, hạ tầng tạo đột phá
Thị trường tài chính phát triển ổn định; thị trường chứng khoán Việt Nam được nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp trong năm 2025, tạo bước tiến quan trọng trong thu hút dòng vốn trung và dài hạn.
Hoạt động thương mại quốc tế duy trì đà tăng trưởng tích cực, với kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu cán mốc 920 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 25 nền kinh tế có quy mô thương mại lớn nhất thế giới. Cán cân thương mại duy trì thặng dư ổn định trên 20 tỷ USD trong ba năm liên tiếp.
Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam lần đầu cán mốc 920 tỷ USD
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2025 đạt trên 4,15 triệu tỷ đồng, tương đương hơn 32% GDP. Các đột phá chiến lược được triển khai quyết liệt khi Quốc hội trong nhiệm kỳ đã thông qua hơn 180 luật, nghị quyết, Chính phủ ban hành 820 nghị định – mức cao nhất từ trước đến nay. Nhiều tồn tại kéo dài được tháo gỡ, trong đó có việc cơ cấu lại 5 ngân hàng yếu kém và xử lý vướng mắc cho hàng nghìn dự án tồn đọng.
Hệ thống kết cấu hạ tầng ghi nhận bước phát triển mang tính đột phá với hơn 3.500 km đường cao tốc, hoàn thành mục tiêu tuyến đường ven biển, cùng hàng trăm công trình, dự án hạ tầng trọng điểm có tổng mức đầu tư trên 5,14 triệu tỷ đồng, trải rộng từ giao thông, năng lượng, công nghiệp đến chuyển đổi số và hạ tầng xã hội.
Những lực cản chưa thể xem nhẹ
Dù gam màu chủ đạo là tích cực, kinh tế Việt Nam vẫn đối diện không ít “gió ngược”. Theo TS. Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ, môi trường quốc tế bất định tiếp tục là rủi ro lớn đối với kinh tế Việt Nam. Xung đột địa chính trị, xu hướng phân mảnh thương mại – công nghệ, gia tăng bảo hộ, cùng các thách thức về an ninh mạng và biến đổi khí hậu đang tạo sức ép lên xuất khẩu, thu hút FDI và ổn định kinh tế vĩ mô.
TS. Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ
Đáng chú ý, nhập siêu dịch vụ vẫn ở mức cao, khoảng 10 tỷ USD, làm suy giảm chất lượng cán cân thanh toán. Ở trong nước, các động lực tăng trưởng truyền thống phục hồi chậm hơn kỳ vọng; đầu tư tư nhân và tiêu dùng chưa trở lại mức trước đại dịch, trong khi giải ngân đầu tư công còn thiếu đồng đều. Doanh nghiệp tiếp tục đối mặt với chi phí đầu vào và logistics cao, đơn hàng biến động, cùng các yêu cầu ngày càng khắt khe về xanh hóa và chuyển đổi số từ thị trường quốc tế.
Trên thị trường tài chính – tiền tệ, dư địa điều hành đang thu hẹp. Thanh khoản hệ thống ngân hàng chịu áp lực, rủi ro lãi suất và tỷ giá vẫn hiện hữu, trong khi giá bất động sản neo cao không chỉ ảnh hưởng tới ổn định vĩ mô mà còn hạn chế dòng vốn chảy vào khu vực sản xuất – kinh doanh.
Mục tiêu tăng trưởng cao và bài toán điều hành năm 2026
Bước sang năm 2026, kinh tế thế giới được dự báo tiếp tục tiềm ẩn nhiều rủi ro, song Việt Nam cũng đứng trước nhiều thuận lợi khi các nghị quyết mang tính đột phá dần phát huy hiệu quả, các dự án hạ tầng chiến lược được triển khai đồng bộ và bộ máy chính quyền địa phương hai cấp chính thức đi vào vận hành.
Quốc hội đã đặt mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 từ 10% trở lên, GDP bình quân đầu người đạt 5.400–5.500 USD, đồng thời kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Để hiện thực hóa mục tiêu này, TS. Cấn Văn Lực cho rằng, chính sách tài khóa cần đóng vai trò trụ cột, trong khi chính sách tiền tệ giữ vai trò hỗ trợ. Trọng tâm là kích cầu đầu tư và tiêu dùng trong nước, giữ vững các “mặt trận” xuất khẩu truyền thống, đồng thời thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ và khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Song song với đó, cần triển khai các giải pháp mang tính cấu trúc để nâng tầm thị trường và dòng vốn. Việc bình ổn các thị trường then chốt như bất động sản, tỷ giá và vàng cần được coi là yêu cầu xuyên suốt nhằm hạn chế rủi ro lan truyền và củng cố niềm tin thị trường.
“Cần đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư đi đôi với sử dụng hiệu quả hơn, trong đó tăng cường đầu tư công cho hạ tầng giao thông và năng lượng để tạo tác động lan tỏa và thúc đẩy tăng trưởng hai con số”, TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh.
Ở góc độ chiến lược dài hạn, ThS. Nguyễn Quốc Anh, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế – tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, Việt Nam cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, dựa trên đổi mới sáng tạo, công nghệ và kinh tế xanh. Trong đó, năng suất nhân tố tổng hợp phải trở thành thước đo chủ đạo; nâng cao năng suất lao động thông qua công nghệ, nhân lực chất lượng cao và quản trị hiện đại là yếu tố quyết định.
Cùng với đó là tái cơ cấu mạnh mẽ nền kinh tế, tháo gỡ đồng bộ các điểm nghẽn dài hạn về thể chế, hạ tầng và chất lượng nhân lực. Kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn sẽ là “chìa khóa” giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng và nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu. Đặc biệt, khu vực kinh tế tư nhân cần được xác định là lực lượng tiên phong trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng, với môi trường cạnh tranh công bằng và các chính sách khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, thân thiện môi trường.
Cẩm Tú/VOV.VN
Nguồn VOV : https://vov.vn/kinh-te/2026-nam-ban-le-cho-ky-vong-but-pha-cua-kinh-te-viet-nam-post1258083.vov