Thế nhưng, chẳng mấy chốc, chúng tôi đã quen dần, hòa nhập để trưởng thành và cống hiến cho quê hương, đất nước.
Xa biển lên rừng
Sau ngày 30-4-1975, thế hệ học sinh miền Nam chúng tôi chỉ nghỉ chừng hơn 1 tháng là đi học lại. Chúng tôi học tại Trường Trung học Cường Để Quy Nhơn, lúc này đã được đổi tên thành Trung học Quang Trung Quy Nhơn. Cũng trường, cũng phòng học đó nhưng không khí khác xưa. Số giáo viên cũ hầu như không còn ai, thay vào đó là các thầy-cô giáo còn rất trẻ, nhiều người là sinh viên năm cuối các trường đại học được điều động về tham gia giảng dạy nên chỉ hơn chúng tôi độ vài ba tuổi. Bạn bè lớp cũ cũng còn khá ít, chủ yếu là các bạn từ các trường khác nhập vào.
Đến tận bây giờ, tôi vẫn không quên được những ngày tháng đầu tiên sau giải phóng. Tuổi trẻ sôi nổi, qua phút bỡ ngỡ ban đầu, chúng tôi nhập cuộc rất nhanh và tích cực tham gia các phong trào do nhà trường phát động. Thành phố biển bấy giờ còn ngổn ngang công việc cần phải dọn dẹp, chỉnh trang sau cuộc chiến. Nhiều vách tường nhà ám đen khói thuốc súng. Đường phố ngập rác thải. Bãi biển còn nguyên mấy chiếc tăng M113 gục đầu trên cát. Không khí lao động tập thể ngày chủ nhật và giai điệu những bài hát hào hùng như: Bác đang cùng chúng cháu hành quân, Bão nổi lên rồi, Tiếng chày trên sóc Bom Bo, Tiếng đàn Ta Lư... cuốn hút, giúp chúng tôi quên đi nỗi mệt nhọc, dù mồ hôi tuôn ướt đẫm trên vai áo.
Các phong trào thi đua học tập, lao động liên tiếp diễn ra. Học chừng vài tháng thì học sinh cả trường đi đắp mương, làm thủy lợi ở Làng Sông (xã Phước Thuận, huyện Tuy Phước) rồi về thi tốt nghiệp cấp III. Đề thi năm đó không khó nên hầu hết chúng tôi đều đậu tốt nghiệp.
Ảnh minh họa: Internet
Hưởng ứng phong trào 3 sẵn sàng, sau khi dự tuyển vào khóa I Trường Cao đẳng Sư phạm Quy Nhơn xung phong lên phục vụ tại các tỉnh Tây Nguyên, trong thời gian 1 năm, chúng tôi đã hoàn thành hơn một nửa chương trình và ra trường, hẹn năm sau về học lại vì Tây Nguyên đang thiếu giáo viên trầm trọng.
Cuối tháng 12-1976, đầu tháng 1-1977, tôi nhận quyết định về huyện Chư Păh (nay là huyện Ia Grai) cùng các bạn ở 2 khối tự nhiên và xã hội. Địa bàn huyện Chư Păh rất rộng, đường sá khó khăn, xe ô tô không đi được đến xã, mùa khô bụi mù mịt, mùa mưa lầy lội, trơn trượt. Việc đi lại chủ yếu là đi bộ, hàng tháng phải gùi, cõng lương thực từ huyện về. Đã vậy, lại còn bệnh sốt rét hoành hành. Khó khăn, thiếu thốn trăm bề.
Gặp lại Quy Nhơn trên cao nguyên
Tôi được Phòng Giáo dục huyện Chư Păh phân công về xã Ia Grai (nay là xã Ia Tô, huyện Ia Grai). Từ thị trấn huyện đi 16 km ngược lên hướng biên giới phía Tây, vượt qua 2 con dốc Ia Châm và dốc “Đầu lâu” mới đến địa phận xã. Xã có nhiều làng đồng bào dân tộc Jrai như: Hlũ, Kmông, De Lung, Khớp và khu vực trung tâm 3 thôn người Kinh từ Quy Nhơn đi kinh tế mới ngay sau ngày 30-4-1975.
Đời sống của bà con lúc này còn rất khó khăn. Sau khi nhận đất và phần lương thực hỗ trợ của Nhà nước, người dân bắt tay vào công việc xây dựng nhà tạm để ở và trồng trọt các loại cây ngắn ngày nhằm giải quyết cái ăn trước mắt. Cả 3 thôn, nhà nào cũng dựng bằng tre, vách nứa, mái lợp lá cỏ tranh. Ai cẩn thận hơn thì chỗ bếp dựng thêm một tấm tôn ngăn với vách lá, phòng cháy. Vậy nhưng đêm hôm, không ít nhà bỗng bị “bà hỏa” viếng thăm, chỉ trong vòng vài chục phút, tất cả hóa thành tro, may mà đồ đạc, quần áo bà con đã kịp mang ra ngoài.
Như đã nói, phần lớn người dân các thôn đều là dân nghèo ở phố biển Quy Nhơn lên đây lập nghiệp theo diện kinh tế mới nên phải mất một thời gian, bà con mới làm quen được với ruộng đồng, nương rẫy. Được cấp 2,5 sào đất ở nên nhà nào cũng trồng khoai lang, khoai mì trong vườn. Nghe lại tiếng nẫu Bình Định thân thương cho tôi cảm giác xa mà gần. Biết tôi đồng hương nên thỉnh thoảng một vài phụ huynh mời xuống nhà ngày chủ nhật dùng cơm. Đạm bạc thôi, mâm cơm có rau lang luộc, cá khô kho và món “át chủ bài” là đĩa trứng vịt đổ chả. Thế nhưng bấy giờ, với tôi, đó là những món “sơn hào hải vị”.
Mỗi thôn thành lập một tập đoàn sản xuất. Vào vụ thì sáng nào cũng nghe kẻng vác cuốc ra đồng. Cánh đồng Ia Bẽ và Ia Tô rộng chừng vài chục héc ta đã được lực lượng thanh niên xung phong khai hoang, xây dựng cánh đồng nên cũng bảo đảm được nguồn lương thực cho người dân 3 thôn. Một vài em học sinh của tôi do bị gián đoạn việc học tập mất 2 năm và cũng có em được cha mẹ làm lại giấy tờ tùy thân nên khá “già” so với tuổi khai sinh. Mùa nào việc ấy. Buổi sáng lên lớp, buổi chiều vác cuốc ra đồng. Có em còn vào rừng đốn gỗ, chặt lồ ô, lấy mật ong (bấy giờ rừng chỉ cách khu dân cư chừng vài ba cây số) hoặc đi tát cá suối, cắt cỏ tranh, hái đót… phụ giúp gia đình.
Bấy giờ, tôi dạy tại Trường Phổ thông cơ sở (gồm cả mẫu giáo, cấp I và cấp II, lúc này chưa gọi tiểu học, THCS), cấp II chỉ có 2 lớp (lớp 6 và lớp 7). Thế nhưng, nhà trường phân công giáo viên dạy đủ các môn, kể cả thể dục. Đời sống của các thầy-cô giáo cũng khó khăn như gia đình học sinh. Cơm rau, cá khô là chính. Những ngày cuối mùa khô thêm được món mít non luộc, mít xào, gỏi mít… Khó khăn là vậy nhưng chúng tôi luôn yêu đời, không than vãn, nhiệt tình giảng dạy.
Thoáng cái mà đã 50 năm. Thành phố biển quê hương giờ phát triển mạnh về lợi thế giao thông, kinh tế biển và du lịch. Ngôi trường xưa trở về với tên truyền thống là Quốc học Quy Nhơn. Những người Quy Nhơn đi kinh tế mới sau nhiều năm vượt khó giờ đã sống sung túc, nhiều người trở thành “đại gia” của xã Ia Tô. Sự học cũng phát triển vượt bậc. Khu trung tâm là một thị tứ sầm uất, có chợ, bến xe, hàng quán buôn bán nhộn nhịp.
Mỗi lần có dịp lên đây, gặp những người quen cũ, chúng tôi thường bồi hồi nhắc nhớ những kỷ niệm xưa. Không còn con đường đất đỏ bụi mù. Không còn nhà tranh vách nứa. Không còn sốt rét vàng mắt, vàng da… Không nói ra nhưng tôi hiểu lòng ai cũng thầm cảm ơn chính sách kinh tế mới ngày ấy, không thì làm sao có được cuộc sống sung túc như hôm nay.
THANH PHONG