7 mũi nhọn chiến lược: Động lực bứt phá của siêu đô thị TP.Hồ Chí Minh

7 mũi nhọn chiến lược: Động lực bứt phá của siêu đô thị TP.Hồ Chí Minh
3 giờ trướcBài gốc
“Siêu đô thị” Thành phố Hồ Chí Minh vươn mình sau sáp nhập.
Tại hội thảo trực tuyến “Nhận diện các ngành tăng trưởng cao và cơ hội cho doanh nghiệp” mới đây, các chuyên gia khẳng định việc làm chủ những động lực công nghệ và dịch vụ cao cấp này chính là chìa khóa để TP.Hồ Chí Minh giải bài toán "hóa rồng" trong bối cảnh chịu áp lực lớn từ một siêu đô thị đang quá tải.
Theo ông Đỗ Thiên Anh Tuấn, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, sau khi tích hợp với các khu vực lân cận, TP.Hồ Chí Minh đã thực sự trở thành một nền kinh tế dịch vụ điển hình với tỷ trọng ngành này chiếm tới 60 - 65% GRDP.
Đáng chú ý, sức mạnh của Thành phố còn được khẳng định qua chỉ số thương số vị trí (LQ) cho thấy lợi thế cạnh tranh vượt trội so với bình quân cả nước. Điển hình như vận tải, có hệ số LQ rất cao (1,66), khẳng định vị thế mũi nhọn chiến lược; thương mại chiếm khoảng 1/4 quy mô cả nước với hệ số LQ đạt 1,3; công nghiệp sau quá trình sáp nhập, tỷ trọng công nghiệp đã khôi phục ở mức hơn 36%, nhỉnh hơn mức bình quân 34% của cả nước.
Bà Trương Tuyết Hà, Phó trưởng phòng Nghiên cứu Phát triển Kinh tế, Viện Nghiên cứu Phát triển TP.Hồ Chí Minh bổ sung thêm rằng tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2025 của Thành phố đạt khoảng 8,3%. Trong đó, ngành lưu trú tăng trưởng ấn tượng 12,5% và vận tải đạt 11,44%, đóng vai trò dẫn dắt khu vực dịch vụ.
"7 NGÀNH TRỤ CỘT" CÓ TIỀM NĂNG TĂNG TRƯỞNG
Nhìn về giai đoạn 2026 - 2030, ông Đỗ Thiên Anh Tuấn nhận diện 5 động lực quốc tế lớn để TP.Hồ Chí Minh bứt phá, gồm: Chuyển đổi số (AI), tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, tăng trưởng xanh (ESG), già hóa dân số và sự bùng nổ của khu vực dịch vụ.
Từ những động lực này, ông Tuấn đưa ra 7 nhóm ngành tiềm năng mà doanh nghiệp có thể nắm bắt cơ hội để phát triển.
Thứ nhất: Tài chính - ngân hàng – Fintech. Với hạt nhân là Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam (VIFC) vừa khánh thành, TP.Hồ Chí Minh kỳ vọng thu hút các định chế tài chính hàng đầu thế giới.
Thứ 2: Kinh tế số. Mục tiêu đóng góp 40% GRDP vào năm 2030. Động lực đến từ AI, dữ liệu, số hóa chính quyền và doanh nghiệp, thương mại điện tử (E-commerce). Các phân khúc tăng trưởng nhanh gồm: trung tâm dữ liệu (Data Center), điện toán đám mây (Cloud), an ninh mạng. Điều này đòi hỏi đầu tư lớn vào hạ tầng số và năng lượng sạch (ví dụ dự án Data Center tại Củ Chi cần khoảng 2.500 MW điện).
Thứ 3: Vi mạch bán dẫn và điện tử thế hệ mới. Ông Tuấn cho rằng Việt Nam chọn bán dẫn là ngành chiến lược và TP.Hồ Chí Minh sẽ đi đầu. Mục tiêu đào tạo 39.000 nhân lực trình độ đại học trở lên cho ngành này đến năm 2030. Tập trung vào các khâu ATP (lắp ráp, kiểm định, đóng gói), thiết kế chip, điện tử thông minh và IoT.
Thứ 4: Sản xuất công nghệ cao và công nghệ sinh học. Chuyển đổi sang các ngành công nghệ cao, giảm phát thải carbon, thu hút các dự án tại Khu công nghệ cao (SHTP). Các mảng tiềm năng gồm: tự động hóa, robot, vật liệu mới, công nghệ môi trường, kinh tế tuần hoàn.
Thứ 5: Logistics và cảng biển. Hình thành "siêu cảng" Cái Mép - Thị Vải kết hợp cảng Cần Giờ và Khu thương mại tự do (FTZ) Cái Mép Hạ. Mô hình này cần kết nối với các trung tâm công nghiệp, đô thị và sân bay Long Thành.
Thứ 6: Dịch vụ cao cấp, công nghiệp văn hóa, nội dung số.
Thứ 7: Du lịch đô thị và y tế chất lượng cao.
THÁCH THỨC TỪ “CHIẾC ÁO” SIÊU ĐÔ THỊ
Dù sở hữu tiềm năng lớn, song lộ trình tăng trưởng năm 2026 vẫn đối mặt với không ít rào cản. Ông Lê Phụng Hào, Chủ tịch Global AAA Consulting chỉ ra rằng cộng đồng kinh doanh vẫn giữ vai trò đầu tàu khi đóng góp tới 23,11% GDP cả nước năm 2025. Tuy nhiên, khi TP.Hồ Chí Minh trở thành một "siêu đô thị", doanh nghiệp đang phải đối mặt với không ít "cơn đau đầu" mới.
Cụ thể, đó là độ vênh thể chế. Sự xung đột giữa các quy định cũ và mới sau sáp nhập tạo ra rào cản pháp lý. Cùng với đó, hạ tầng quá tải, chi phí logistics vẫn ở mức cao do các tuyến huyết mạch như Quốc lộ 51 hay cao tốc TP.Hồ Chí Minh - Long Thành thường xuyên ùn tắc.
Mặt khác là sự cạnh tranh nhân tài. Khi có sự xuất hiện của các "đại bàng" quốc tế, việc cạnh tranh và thu hút nhân lực là áp lực rất lớn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đặc biệt là các rào cản chuyển đổi xanh (CBAM, ESG) khiến doanh nghiệp có nguy cơ bị loại khỏi chuỗi cung ứng nếu không kịp thích nghi.
Ngoài ra là cạnh tranh với các siêu đô thị trong khu vực. Ông Hào cho rằng khi định vị là siêu đô thị, chúng ta phải cạnh tranh sòng phẳng với các thành phố lớn trên thế giới. Hiện tại, chi phí logistics vẫn còn cao do kết nối nội vùng khó khăn. Nếu không có cơ chế tháo gỡ chính sách kịp thời, năm 2026 vẫn sẽ còn nhiều thách thức.
Bà Trương Tuyết Hà cũng lo ngại khi hiện vẫn tồn tại những khó khăn do nguy cơ quá tải hạ tầng khi dân số cao và lưu lượng hàng hóa gia tăng mạnh. Một số tuyến đường huyết mạch như Quốc lộ 51, cao tốc TP.Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây, Mỹ Phước - Tân Vạn thường xuyên xảy ra tình trạng kẹt xe, ùn tắc, đặc biệt là tại các cửa ngõ cảng biển lớn như Cát Lái, Hiệp Phước, Phú Hữu.
Bên cạnh đó, việc mở rộng các khu vực này cũng gây áp lực về môi trường và khí thải nhà kính. Đây là những vấn đề cần được giải quyết để phát huy tối đa tiềm năng, đặc biệt là khi Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ và Khu thương mại tự do gắn với cảng biển Cái Mép - Thị Vải đi vào vận hành.
Song các ý kiến đều nhìn nhận năm 2026 cơ hội và thách thức để TP.Hồ Chí Minh tăng trưởng sẽ đan xen. Tuy nhiên, cơ hội sẽ rất lớn, đặc biệt là từ các cơ chế chính sách đặc thù cho thành phố, việc hình thành trung tâm tài chính và phát triển cơ sở hạ tầng là những đòn bẩy để Thành phố phát huy tối đa tiềm năng.
Vũ Khuê
Nguồn VnEconomy : https://vneconomy.vn/7-mui-nhon-chien-luoc-dong-luc-but-pha-cua-sieu-do-thi-tpho-chi-minh.htm