75 năm ngành Công Thương và dấu ấn về công nghiệp quốc gia

75 năm ngành Công Thương và dấu ấn về công nghiệp quốc gia
một giờ trướcBài gốc
Những bước chuyển của nền công nghiệp Việt Nam
Nhìn lại chặng đường 75 năm Ngày truyền thống ngành Công Thương Việt Nam (14/5/1951 - 14/5/2026), có thể thấy gắn chặt với từng giai đoạn vận động của đất nước. Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, nền công nghiệp Việt Nam gần như chỉ là các xưởng quân giới quy mô nhỏ phục vụ chiến đấu, sản xuất vũ khí thô sơ, thuốc men và nhu yếu phẩm thiết yếu.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng các cấp lãnh đạo và chuyên gia Liên Xô trong Lễ khánh thành Nhà máy Điện Uông Bí ngày 18/1/1964. Ảnh tư liệu
Giai đoạn 1955-1975, công nghiệp miền Bắc phát triển theo mô hình xã hội chủ nghĩa với trọng tâm là công nghiệp nặng. Hàng loạt cơ sở công nghiệp nền tảng được xây dựng như: Nhà máy Gang thép Thái Nguyên, Công ty Cơ khí Hà Nội, Nhà máy Điện Uông Bí, Nhà máy Hóa chất Số 1 Việt Trì, Nhà máy dệt 8/3, Nhà máy Bóng đèn Phích nước Rạng Đông… Đây là nền móng đầu tiên cho quá trình công nghiệp hóa của Việt Nam.
Sau thống nhất đất nước, Việt Nam tiếp tục ưu tiên phát triển công nghiệp nặng với các công trình quy mô lớn như Thủy điện Hòa Bình, Xi măng Bỉm Sơn, Nhiệt điện Phả Lại, Giấy Bãi Bằng… Tuy nhiên, cơ chế kế hoạch hóa tập trung cùng bối cảnh cấm vận kéo dài khiến sản xuất công nghiệp nhiều năm rơi vào trì trệ, thiếu động lực đổi mới.
Bước ngoặt chỉ thực sự xuất hiện từ sau công cuộc Đổi mới năm 1986. Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mở rộng hội nhập quốc tế, công nghiệp Việt Nam bắt đầu bước vào chu kỳ tăng trưởng mới.
Từ đầu thập niên 1990, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) gia tăng mạnh mẽ, kéo theo sự hình thành của các khu công nghiệp, khu chế xuất và các trung tâm sản xuất quy mô lớn. Đặc biệt, sau khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2007, cấu trúc công nghiệp đã thay đổi nhanh chóng với sự hiện diện của các tập đoàn đa quốc gia như Samsung, Intel, Canon, Toyota, Honda hay Panasonic.
Làn sóng đầu tư này tạo ra bước chuyển lớn cho công nghiệp chế biến, chế tạo và làm thay đổi mạnh cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam. Từ một nền kinh tế chủ yếu xuất khẩu nông sản và hàng gia công đơn giản, Việt Nam đã trở thành một trong những trung tâm sản xuất điện tử lớn của thế giới. Có thời điểm, tỷ trọng hàng công nghệ cao trong cơ cấu xuất khẩu công nghiệp đạt khoảng 36%.
Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt khoảng 920 tỷ USD, trong đó xuất khẩu vượt 475 tỷ USD. Trong thành tựu đó, công nghiệp đóng vai trò then chốt trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy chế biến, chế tạo và hình thành các mô hình kinh tế mới.
Công nghiệp phải trở thành động lực của năng lực quốc gia
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, chuyên gia kinh tế và thương mại quốc tế, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Đại học Kinh tế Quốc dân), nhận định, điểm hạn chế lớn nhất là mức độ phụ thuộc vào khu vực FDI còn quá lớn. Phần lớn doanh nghiệp trong nước vẫn tham gia ở các khâu gia công, lắp ráp có giá trị gia tăng thấp, trong khi khả năng làm chủ công nghệ lõi còn hạn chế.
"Công nghiệp Việt Nam đã đi từ nền sản xuất rất sơ khai đến việc hình thành nhiều ngành công nghiệp nền tảng. Tuy nhiên, giai đoạn phát triển tiếp theo không còn là câu chuyện mở rộng quy mô đơn thuần mà phải chuyển sang phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và công nghệ chiến lược", ông Nguyễn Thường Lạng nói.
Theo ông, Việt Nam hiện vẫn thiếu các hệ sinh thái công nghiệp đủ mạnh, thiếu doanh nghiệp đầu tàu làm chủ công nghệ và dẫn dắt chuỗi giá trị. Trong khi đó, cạnh tranh toàn cầu đang bước sang giai đoạn mới, nơi các quốc gia cạnh tranh bằng công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và khả năng tự chủ chuỗi cung ứng thay vì lao động giá rẻ.
Một điểm đáng chú ý khác là năng lực “đón đầu” của công nghiệp Việt Nam còn hạn chế. Khi thị trường quốc tế thay đổi tiêu chuẩn kỹ thuật, siết yêu cầu xanh hóa hay đẩy mạnh chuyển đổi số, nhiều doanh nghiệp trong nước thường mất nhiều thời gian thích ứng.
Chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của cả Nhà nước và doanh nghiệp hiện vẫn ở mức thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Đây là khoảng trống lớn trong bối cảnh khoa học, công nghệ ngày càng trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thực tế cho thấy, Việt Nam không thể tiếp tục công nghiệp hóa bằng tư duy gia công. Nếu chỉ dừng ở vai trò lắp ráp và tham gia vào các khâu giá trị thấp, nền công nghiệp sẽ khó tạo được sức bật dài hạn cũng như khả năng chống chịu trước biến động toàn cầu.
Mục tiêu đến năm 2045, đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp hiện đại đòi hỏi một cách tiếp cận hoàn toàn khác so với giai đoạn trước. Ảnh minh họa
Mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp hiện đại đòi hỏi một cách tiếp cận hoàn toàn khác so với giai đoạn trước. Theo các chuyên gia, công nghiệp trong giai đoạn mới không chỉ là mở thêm nhà máy hay tăng sản lượng xuất khẩu, mà phải trở thành động lực tạo ra năng suất, công nghệ và năng lực cạnh tranh quốc gia. Điều này đồng nghĩa với việc Việt Nam phải xây dựng được hệ sinh thái công nghiệp hiện đại với thị trường đủ mạnh, doanh nghiệp dẫn dắt, nguồn nhân lực chất lượng cao và đặc biệt là khả năng làm chủ công nghệ.
Trong bối cảnh chuyển đổi số và chuyển đổi xanh diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, công nghiệp Việt Nam cần tham gia sâu hơn vào quá trình đổi mới sáng tạo, phát triển công nghệ và xây dựng thương hiệu quốc gia.
Đặc biệt, công nghiệp phải trở thành “bệ đỡ” cho các lĩnh vực khác, nhất là nông nghiệp. Dù là quốc gia nông nghiệp lớn, Việt Nam vẫn phụ thuộc đáng kể vào nhập khẩu máy kéo, drone hay công nghệ nông nghiệp thông minh. Điều đó cho thấy công nghiệp phục vụ nông nghiệp vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng.
Theo PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, Việt Nam cần một chiến lược phát triển công nghiệp tổng thể có chiều sâu, lộ trình rõ ràng và được cụ thể hóa đến từng ngành, từng doanh nghiệp, từng địa phương. Những lĩnh vực như bán dẫn, AI, năng lượng, công nghệ cao, đường sắt hay công nghiệp quốc phòng đều cần mô hình phát triển riêng cùng các doanh nghiệp dẫn dắt cụ thể. “Kinh nghiệm quốc tế cho thấy muốn phát triển công nghiệp công nghệ cao thì phải có những tập đoàn đủ mạnh đứng ra đảm nhận vai trò dẫn dắt”, PGS.TS nguyễn thường Lạng nhấn mạnh.
Tăng tốc công nghiệp hóa bằng đổi mới sáng tạo và tự chủ công nghệ
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định rõ yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng dựa trên năng suất, chất lượng, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong tiến trình đó, ngành Công Thương giữ vai trò trung tâm khi trực tiếp gắn với các trụ cột then chốt như công nghiệp chế biến, chế tạo; chuyển dịch năng lượng; phát triển thương mại hiện đại và mở rộng chuỗi giá trị xuất khẩu. Yêu cầu này đặt ra nhiệm vụ cho toàn ngành không chỉ nâng cao giá trị gia tăng trong sản xuất mà còn thúc đẩy thương mại số, phát triển năng lượng bền vững và tăng khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Hoàn thiện chiến lược phát triển công nghiệp, hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Ảnh minh họa
Năm 2026 đánh dấu 75 năm Ngày truyền thống ngành Công Thương Việt Nam (14/5/1951 - 14/5/2026), đồng thời mở ra giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng cao của nền kinh tế. Trong bối cảnh đó, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 594/QĐ-BCT ngày 31/3/2026 về Chương trình hành động thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Chương trình hành động xác định yêu cầu xuyên suốt là cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp của Chính phủ, bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của ngành Công Thương, đồng thời bám sát mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.
Theo định hướng đặt ra, ngành Công Thương hướng tới nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, thúc đẩy thương mại bền vững và hội nhập sâu rộng. Một số chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn 2026 - 2030 gồm: tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; giá trị tăng thêm ngành công nghiệp bình quân đầu người đạt khoảng 2.400 USD.... Cùng với đó, tốc độ tăng trưởng của các lĩnh vực trọng điểm cũng được đặt ở mức cao, với ngành công nghiệp tăng bình quân 11,8%/năm, riêng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 12,4%/năm.
Để hiện thực hóa các mục tiêu này, Chương trình hành động đề ra hệ thống nhiệm vụ, giải pháp toàn diện trên tất cả lĩnh vực quản lý của ngành. Trong đó, trọng tâm là phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp chế biến, chế tạo; thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI; nâng cao năng lực sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Theo các chuyên gia trong ngành, trong bối cảnh thế giới còn nhiều bất định, yêu cầu tự chủ công nghiệp càng trở nên cấp thiết. Điều đó đồng nghĩa với việc phát triển phải gắn với tự chủ về công nghệ, năng lượng và chuỗi cung ứng để nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các nền kinh tế thành công như Nhật Bản, Hàn Quốc hay Đài Loan (Trung Quốc) đều xác định rất rõ ngành công nghiệp cốt lõi, doanh nghiệp chủ lực và tập trung nguồn lực để phát triển. Nhật Bản thành công nhờ chuẩn hóa quản trị và chất lượng. Hàn Quốc tạo bước nhảy vọt bằng chiến lược công nghiệp hóa có chọn lọc cùng các tập đoàn đầu tàu. Đài Loan (Trung Quốc) vươn lên nhờ tập trung vào công nghệ lõi và bán dẫn với mô hình doanh nghiệp dẫn dắt như Taiwan Semiconductor Manufacturing Co., Ltd (TSMC).
Điểm chung của các quốc gia này là không dừng ở định hướng tổng thể mà cụ thể hóa thành mục tiêu rõ ràng cho từng ngành, từng doanh nghiệp và từng giai đoạn phát triển. Đây cũng là khoảng trống mà Việt Nam cần nhanh chóng lấp đầy nếu muốn bước sang giai đoạn phát triển công nghiệp mới.
Sau 75 năm phát triển, ngành Công Thương đã đi từ nền công nghiệp còn nhiều thiếu thốn trở thành một trong những trung tâm sản xuất quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Đáng chú ý, trong Top 10 trong Bảng xếp hạng VNR500 - Top 500 Doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2025 - do Vietnam Report công bố, có sự góp mặt của nhiều tập đoàn lớn như: Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam, Tập đoàn Vingroup, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội Viettel, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam và Công ty CP Tập đoàn Hòa Phát.
Tuy nhiên, chặng đường phía trước đặt ra hàng loạt các yêu cầu như: Mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao năng lực làm chủ công nghệ, tăng hàm lượng sáng tạo và giá trị gia tăng trong từng sản phẩm. Đây không chỉ là yêu cầu riêng của ngành công nghiệp, mà còn là điều kiện để Việt Nam tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia công nghiệp hiện đại trong những thập niên tới.
Nhiều chiến lược hiện nay mới chủ yếu dừng ở khung định hướng, trong khi nguồn lực đầu tư, cơ chế vận hành, mô hình phối hợp giữa Nhà nước và doanh nghiệp hay vai trò của các tập đoàn dẫn dắt vẫn chưa thật sự rõ nét. Muốn công nghiệp Việt Nam bước sang giai đoạn mới, cần một tư duy phát triển mới: Nhà nước kiến tạo, doanh nghiệp sáng tạo và thị trường dẫn dắt. Đồng thời, phải hình thành được những tập đoàn công nghiệp mạnh, đủ khả năng làm chủ công nghệ và cạnh tranh toàn cầu.
Nguyễn Hạnh
Nguồn Công Thương : https://congthuong.vn/75-nam-nganh-cong-thuong-va-dau-an-ve-cong-nghiep-quoc-gia-456102.html