80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam: Một quyết sách, hai nhiệm kỳ (*)

80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam: Một quyết sách, hai nhiệm kỳ (*)
một ngày trướcBài gốc
Thảo luận kỹ lưỡng, tìm phương án tối ưu nhất
Dự án có mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội khá rộng lớn: Một là, cung cấp nguồn điện để phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Hai là, góp phần chống lũ về mùa mưa và cung cấp nguồn nước về mùa kiệt cho đồng bằng Bắc Bộ. Ba là, góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc của Tổ quốc.
Trong nội dung Dự án có những khối công việc liên quan đến sản xuất và đời sống của người dân cả một vùng miền núi rộng lớn. Vùng đất sẽ bị ngập nước dự kiến tới 24.200ha (trong đó đất nông nghiệp 9.986ha, đất lâm nghiệp 4.460ha, đất chuyên dùng 1.040ha, đất ở 597ha...). Số dân bị ảnh hưởng (phải di dời, tái định cư) tới gần 18 nghìn hộ, với ngót chục vạn nhân khẩu. Dự án công trình liên quan đến 3 tỉnh là Sơn La, Điện Biên và Lai Châu cũng như vấn đề bảo tồn văn hóa các dân tộc, biến đổi môi trường sinh thái, bảo vệ di tích lịch sử. Đặc biệt là vấn đề an toàn công trình trong điều kiện có động đất và bảo đảm an toàn cho hạ du. (Dự kiến ban đầu, công trình có hồ chứa dung tích lớn từ 9,2 đến 25,5 tỷ mét khối nước, đập cao từ 135 đến 177 mét).
Nhà máy thủy điện Sơn La - một trong những công trình quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư. Nguồn: evn.com.vn
Phía hạ lưu đã có công trình thủy điện Hòa Bình, có đồng bằng Bắc Bộ rộng lớn với 20 triệu dân và Thủ đô Hà Nội nên an toàn công trình và các vùng hạ du là những vấn đề vô cùng quan trọng, đòi hỏi công trình phải được bảo đảm an toàn tuyệt đối. Dự án cũng khẩn thiết đặt ra bài toán về quốc phòng - an ninh khi xây dựng công trình và quá trình vận hành công trình...
Tìm phương án tối ưu, vừa bảo đảm được các mục tiêu to lớn, vừa bảo đảm mức ảnh hưởng tối thiểu (ít nhất) đến sản xuất và đời sống của nhân dân và tuyệt đối an toàn là bài toán “hàm nhiều biến”, rất khó giải quyết đối với Quốc hội.
Dự án được Chính phủ trình tại Kỳ họp thứ Chín, Quốc hội khóa X. Quốc hội đã thảo luận nhiều phiên xoay quanh trọng tâm là đã cần thiết hay chưa xây dựng công trình với những điều kiện “khắc nghiệt” như thế, trong khi ngân sách nhà nước còn rất eo hẹp mà phải đầu tư ban đầu quá lớn; và nếu xây dựng thì phải có các phương án tiền khả thi như thế nào để có thể lựa chọn. Cuối cùng, với tầm “nhìn xa, trông rộng”, Quốc hội khóa X đã quyết nghị nhất thiết phải làm để thực hiện chủ trương công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Quyết nghị của Quốc hội được thể hiện bằng Nghị quyết số 44/2001/QH10, ngày 29/6/2001 về chủ trương đầu tư dự án nhà máy thủy điện Sơn La.Nghị quyết xác quyết 3 mục tiêu (như nói ở trên) và giao cho Chính phủ khẩn trương chuẩn bị hai nhóm công việc.
Một là, chuẩn bị các phương án có quy mô khác nhau với các yêu cầu: Bảo đảm an toàn tuyệt đối cho công trình, cho hạ du và Thủ đô Hà Nội; đạt hiệu quả kinh tế tổng hợp; bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Bắc; giảm thiểu tác động xấu đối với môi trường- sinh thái, đa dạng sinh học; có biện pháp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc.
Hai là, triển khai thực hiện các công việc chuẩn bị: Khẩn trương tiến hành các công việc cần thiết để khởi công xây dựng công trình vào năm 2005. Mở rộng và nâng cấp quốc lộ số 6 (để phục vụ xây dựng công trình). Xây dựng dự án tổng thể về tái định cư theo các phương án, giải quyết tốt các chính sách đối với đồng bào các dân tộc, coi đây là nhiệm vụ quan trọng như việc xây dựng công trình; thí điểm các khu tái định cư, định canh mẫu để rút kinh nghiệm.
Tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XI khai mạc vào ngày 22/10/2002, thực hiện Nghị quyết số 44 của Quốc hội khóa X, Chính phủ đã có Tờ trình số 1425/cp-cn ngày 12/11/2002 về các phương án xây dựng công trình thủy điện Sơn La, tóm tắt như sau:
Phương án 1: Mực nước dâng 265 mét (m), công suất lắp máy 3.600 Mêgawat (MW), sản lượng điện 12 tỷ kwh/năm, dung tích hồ 17 tỷ m3 nước, số dân phải di dời tái định cư hơn 20 vạn người.
Phương án 2: Mực nước dâng 205-215m, công suất lắp máy 2400MW, sản lượng điện 10,2 tỷ kwh/năm, dung tích hồ 9,9 tỷ m3 nước, số dân phải di dời tái định cư hơn 18 vạn người.
Phương án 3: Mực nước dâng 180-200m, công suất lắp máy 2000MW, sản lượng điện 8 tỷ kwh/năm, dung tích hồ 6,5 tỷ m3 nước, số dân phải di dời tái định cư hơn 13 vạn người.
Sau khi nghiên cứu Tờ trình của Chính phủ, Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Quốc hội đã dành khá nhiều thời gian để thảo luận các phương án. Trọng tâm - mấu chốt là xác định mực nước dâng (cao trình hồ đập), khi xác định được mực nước dâng thì các tiêu chí khác cũng được xác định theo.
Xem xét từng phương án cho thấy: Phương án 1 có ưu điểm nổi bật là thực thi được trọn vẹn mục tiêu cung cấp điện năng cho nền kinh tế - xã hội với sản lượng khá lớn 12 tỷ kwh/năm. Nhưng có nỗi lo nổi bật là, mức độ an toàn cho bản thân công trình và an toàn cho hạ du, nhất là cho Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ có rủi ro ở mức độ lớn. Sáng 5/12/2002, một đại biểu là Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh phát biểu: Chúng ta hãy hình dung, nếu đập thủy điện Sơn La bị vỡ thì ngay lập tức những chiếc xe tăng T54 nặng gần 40 tấn ở Sơn Tây sẽ bị thổi bay, trôi vèo vèo như những chiếc lá vàng; chỉ sau 30 phút, toàn bộ đồng bằng Bắc Bộ chìm nghỉm sâu từ 4 đến 60 mét, cướp đi sinh mạng của hơn 15 triệu người...”. Cả nghị trường, khuôn mặt các đại biểu và khách mời, ai nấy trở nên đăm chiêu, tư lự! Hầu hết các ý kiến trước và sau đó có xu hướng không nên chọn phương án “Sơn La cao” 265 mét.
Ngược lại, Phương án 3,còn gọi là Sơn La nhỏ, vì mực nước dâng chỉ 180 đến 200m, hoàn toàn bảo đảm được an toàn cho hạ du và ít phải di dân tái định cư; tuy nhiên hiệu quả quá thấp, không đạt được các mục tiêu kinh tế.
Phương án 2 được đề cập đến nhiều, nhưng cũng chưa phải là phương án hoàn chỉnh... Trên cơ sở các ý kiến thảo luận của các đại biểu, Chính phủ đã có Tờ trình bổ sung số 1585, ngày 11/12/2002 xác định chỉ có một phương án, trong đó xác định mực nước dâng (cao trình của đập) là 215 m.
Quốc hội tiếp tục thảo luận nhiều phiên rất sôi động. Các nhà khoa học kinh tế, khoa học thủy lợi, khoa học trái đất, khoa học khí tượng, thủy văn... đều phát biểu ý kiến. Có giáo sư, tiến sĩ đã dành cả ngày chủ nhật để làm việc, tham khảo ý kiến của cơ quan - của người trực tiếp tính toán các kịch bản không may xảy ra thảm họa vỡ đập... Đại biểu này đề nghị Chính phủ chuẩn bị chi tiết số liệu tương ứng với chênh lệch mực nước từng 2m một (trong phạm vi từ cao trình 200m đến 215m) làm cơ sở cho đại biểu tham khảo, quyết định. Đại biểu là Tổng Giám đốc Tổng Công ty điện lực Việt Nam cho biết, Chính phủ đã cho ban hành bộ tiêu chí đặc biệt theo các chỉ số an toàn cao nhất của Liên bang Nga. Khi lập dự án tiền khả thi dự báo động đất khu vực tới cấp 8 thì thiết kế đập phải chịu được cấp 9. Ngoài ra còn yêu cầu các cửa xả phải đủ độ sâu để có thể rút cạn nước hồ đập xuống mức an toàn trong trường hợp khẩn cấp; và thiết kế đập còn phải chịu được sức công phá của vũ khí thông thường (ngoài vũ khí hạt nhân)...
Càng về sau các ý kiến càng nghiêng về phương án 2 (còn gọi là Sơn La thấp) có mực nước dâng (cao trình) tối đa là 215m. Với điều kiện bảo đảm kỹ thuật xây dựng và năng lực vận hành tốt thì vẫn bảo đảm được các mục tiêu kinh tế và xã hội.
Quốc hội đã tổng hợp cả 3 phương án, lấy những yếu tố hợp lý của hai phương án 1 và 3 để điều chỉnh cho phương án 2 và chỉnh sửa những yếu tố chưa thật hợp lý của phương án 2...
Biểu tượng cho trí tuệ và sự nỗ lực lớn lao của người Việt Nam
Sáng 16/12/2002, Quốc hội họp phiên cuối cùng về Dự án này. Sau nửa buổi thảo luận (có tính chất xác định các chỉ tiêu cụ thể), Quốc hội biểu quyết một số nội dung, chỉ tiêu còn có ý kiến khác nhau, sau đó biểu quyết toàn bộ dự thảo Nghị quyết, tuyệt đại đa số (89,7%) tổng số đại biểu đã tán thành. Nghị quyết chính thức có số hiệu là số 13/2002/QH11 ngày 16/12/2002 về phương án xây dựng công trình thủy điện Sơn La. Trong đó có nội dung chính như sau:
Điều 1: Xây dựng công trình thủy điện Sơn La phù hợp với quy hoạch bậc thang thủy điện sông Đà gồm 3 bậc: Hòa Bình - Sơn La thấp (tuyến Pa Vinh II) - Lai Châu (tuyến Nậm Nhùn) với những thông số cơ bản như sau:
1- Địa điểm xây dựng: xã Ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La;
2- Quy mô công trình: ứng với mực nước dâng bình thường của hồ chứa từ 205m đến 215m, không vượt quá 215m; công suất lắp máy: từ 1.970MW đến 2.400MW; sản lượng điện trung bình hàng năm: từ 7.555 triệu kWh đến 9.209kWh;
3- Vốn đầu tư (chưa tính lãi vay): từ 31.000 tỷ đồng đến 37.000 tỷ đồng, trong đó vốn trong nước khoảng 70%, vốn ngoài nước khoảng 30%.
4- Số dân tái định cư tính đến năm 2010: từ 79.000 người đến 91.000 người (từ 16.000 hộ đến 18.000 hộ).
Điều 2: Giao Chính phủ triển khai thực hiện công trình với những yêu cầu sau:
1- Trên cơ sở 3 nhiệm vụ, 5 yêu cầu mà Nghị quyết số 44/2001/QH10 của Quốc hội khóa X, Kỳ họp thứ Chín đã đề ra và quy định tại Điều 1 của Nghị quyết này, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tiếp tục khảo sát, hoàn chỉnh hồ sơ dự án, thiết kế kỹ thuật, quyết định phê duyệt mực nước dâng bình thường cụ thể của hồ chứa và quy mô công trình bảo đảm an toàn tuyệt đối và hiệu quả kinh tế tổng hợp; quản lý chặt chẽ các khâu của quá trình thực hiện dự án; khởi công công trình vào năm 2005, phát điện tổ máy số 1 vào năm 2012, hoàn thành công trình vào năm 2015.
2- Hoàn thiện và thực hiện phương án tổng thể thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc, bảo đảm cho nhân dân phải di dời sớm ổn định và có điều kiện sống tốt hơn nơi ở cũ.
Thực thi Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo khởi công vào ngày 2/12/2005. Sau 7 năm xây dựng, nhà máy thủy điện Sơn La đã được khánh thành vào ngày 23/12/2012 (sớm hơn 3 năm so với dự kiến) và trở thành nhà máy thủy điện lớn nhất Việt Nam, lớn nhất Đông Nam Á vào thời điểm đó.
Nhà máy có công suất lắp máy 2.400MW gồm 6 tổ máy, mỗi tổ 400MW; sản lượng điện bình quân hàng năm 10,2 tỷ kWh. Kết quả xây dựng công trình này là biểu tượng cho trí tuệ và sự nỗ lực lớn lao của người Việt Nam; góp phần nâng cao năng lực công nghệ và kỹ thuật trong ngành điện.
Qua 13 năm vận hành, sử dụng, đến tháng 4/2025, nhà máy đã đạt mốc sản lượng 100 tỷ kWh, chiếm 15% sản lượng điện cả nước, khẳng định vai trò quan trọng của nhà máy trong việc đáp ứng nhu cầu điện năng toàn quốc; giữ vai trò quan trọng trong việc phối hợp với các hồ thủy điện trên khu vực sông Đà thực hiện điều tiết hồ chứa, bảo đảm chống lũ có hiệu quả cao cho cả vùng hạ du, đồng bằng Bắc Bộ và Thủ đô Hà Nội. Công trình này đã thúc đẩy nền kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc phát triển. Quá trình xây dựng công trình cũng đồng thời xây dựng được các bản làng mới khang trang, trù phú, cải thiện hệ thống giao thông đường bộ, thúc đẩy nhiều hoạt động kinh tế khác, thu hút đầu tư, tạo ra nhiều việc làm mới...
Vào thời điểm 2002, công trình xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La là dự án lớn nhất, phức tạp nhất, có ảnh hưởng sâu rộng nhất của ngành điện Việt Nam...
Quốc hội đã tiến hành công việc hết sức cẩn trọng, khách quan, khoa học với tinh thần trách nhiệm cao (cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi ích kinh tế với tác động xã hội - môi trường theo nhiều phương án...). Tất cả vì lợi ích quốc gia và lợi ích của người dân.
Cho đến lúc này, trải qua 13 năm vận hành, công trình hoàn toàn an toàn, 3 mục tiêu được xác định ban đầu đã đạt được ở mức độ cao. Đó là bài học kinh nghiệm sâu sắc của Quốc hội khi quyết định những vấn đề trọng đại bậc nhất của quốc gia.
-----
(*) Bài viết theo Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1992 - 2011, Nxb CTQG, HN.2015; các tài liệu lưu trữ tại VPQH và các tài liệu đã được công bố.
Ts. Bùi Ngọc Thanh - Nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội
Nguồn Đại Biểu Nhân Dân : https://daibieunhandan.vn/80-nam-ngay-tong-tuyen-cu-dau-tien-bau-quoc-hoi-viet-nam-mot-quyet-sach-hai-nhiem-ky-10402860.html