Cơ sở dự trữ khí đốt tự nhiên tại Zsana, Hungary. (Ảnh: THX/TTXVN)
Khí đốt tự nhiên đã trở thành tâm điểm chú ý tại CERAWeek, hội nghị năng lượng lớn nhất thế giới diễn ra tuần này tại Houston (Mỹ).
Khoảng 10.000 chuyên gia và lãnh đạo doanh nghiệp hội tụ tại đây đã xác định điện khí là giải pháp nhanh nhất để đáp ứng nhu cầu năng lượng khổng lồ của Trí tuệ Nhân tạo (AI), bất chấp việc điều này đi ngược lại các cam kết trung hòa carbon.
Bên lề hội nghị, ông Laurent Ruseckas, chuyên gia năng lượng tại S&P Global, khẳng định điện khí đóng vai trò "cốt lõi" đối với sự phát triển của Trí tuệ Nhân tạo.
Ông nhận định, do nhu cầu cấp bách của các trung tâm dữ liệu, khí đốt hiện là con đường duy nhất để cung cấp nguồn điện nhanh chóng, khiến các tập đoàn công nghệ lớn phải gác lại mục tiêu đạt mức phát thải ròng bằng "0" vào năm 2030 hoặc 2040.
Đồng tình với quan điểm trên, ông Charles Riedl, Chủ tịch Trung tâm Khí tự nhiên hóa lỏng (CLNG), đại diện cho các tập đoàn năng lượng khổng lồ của Mỹ như Cheniere Energy, Chevron và ConocoPhillips, nhấn mạnh độ tin cậy và khả năng cung cấp liên tục của điện khí là không có đối thủ.
Hàng chục phiên thảo luận tại CERAWeek đã tập trung vào cách ngành khí đốt đáp ứng nhu cầu điện của Trí tuệ Nhân tạo, cũng như chiều ngược lại, cách Trí tuệ Nhân tạo giúp ngành năng lượng tối ưu hóa sản xuất.
Theo số liệu của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), các trung tâm dữ liệu toàn cầu tiêu thụ lượng điện năng khổng lồ, trong đó than đá vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, tiếp đến là năng lượng tái tạo. Khí đốt hiện là nguồn năng lượng lớn thứ ba, đáp ứng 26% nhu cầu của các trung tâm này.
Tại Mỹ, Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho biết sản lượng khí tự nhiên đã tăng mạnh từ năm 2016, kéo theo xuất khẩu Khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) tăng gấp 30 lần. Chuyên gia Eric Hanselman từ S&P Global đánh giá sự bùng nổ của khí đốt xuất phát trực tiếp từ nhu cầu phát triển Trí tuệ Nhân tạo.
Công nhân điều chỉnh van tại trạm khí nén Slavyanskaya trên hệ thống đường ống dẫn khí đốt Nord Stream 2 của Tập đoàn Gazprom ở Ust-Luga, Nga. (Ảnh: Getty Images/TTXVN)
Xu hướng này dự báo sẽ còn tiến xa hơn nữa khi Tổng thống Mỹ Donald Trump thúc đẩy mạnh mẽ nhiên liệu hóa thạch và gác lại nhiều dự án năng lượng tái tạo.
Một nghiên cứu gần đây của tổ chức Global Energy Monitor chỉ ra rằng hơn 30% công suất điện khí của Mỹ đang phục vụ trực tiếp cho các trung tâm dữ liệu.
Bên cạnh khí đốt, ngành công nghệ cũng đang hướng tới điện hạt nhân, nguồn năng lượng hiện chiếm 15% lượng điện tiêu thụ của các trung tâm dữ liệu toàn cầu.
Hồi tháng 1/2026, tập đoàn Meta đã ký thỏa thuận mua 6,6 gigawatt điện từ 3 công ty điện hạt nhân Mỹ. Tuy nhiên, Chủ tịch Ủy ban Điều tiết Hạt nhân Mỹ (NRC) Ho Nieh lưu ý rằng thời gian xây dựng lò phản ứng lâu hơn nhiều so với tua-bin khí. Dự án của Meta dự kiến phải đến năm 2035 mới hòa lưới điện hoàn toàn.
Trong khi đó, theo nhật báo kinh tế Les Echos (Pháp), căng thẳng tại Trung Đông và việc gián đoạn vận chuyển năng lượng qua eo biển Hormuz đang khiến giá dầu và khí tự nhiên hóa lỏng tăng cao, buộc nhiều quốc gia châu Á phải điều chỉnh chiến lược năng lượng, trong đó có xu hướng gia tăng sử dụng than đá và điện hạt nhân nhằm bảo đảm an ninh năng lượng.
Tàu chở dầu di chuyển qua eo biển Hormuz. (Ảnh: Reuters/TTXVN)
Eo biển Hormuz-tuyến hàng hải trung chuyển khoảng 1/5 thương mại dầu mỏ và khí đốt toàn cầu-bị gián đoạn đã tạo ra cú sốc nguồn cung đối với khu vực châu Á, nơi nhu cầu năng lượng đang tăng nhanh.
Theo các số liệu thị trường, nhu cầu điện tại châu Á tăng khoảng 5% mỗi năm, cao hơn nhiều so với các khu vực khác, trong khi khu vực này đang bước vào giai đoạn cao điểm tiêu thụ điện mùa Hè.
Tình trạng giá khí tự nhiên hóa lỏng tăng mạnh đặc biệt ảnh hưởng đến các nền kinh tế phụ thuộc nhập khẩu. Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), Ấn Độ nhập khẩu tới 49% nhu cầu khí đốt, khiến nước này chịu tác động rõ rệt. Hãng tin Bloomberg cho biết Chính phủ Ấn Độ đã yêu cầu một số nhà máy nhiệt điện chạy than hoãn bảo trì để duy trì công suất phát điện.
Ngoài ra, theo công ty nghiên cứu năng lượng Argus, Ấn Độ cũng đang xem xét tăng sản lượng điện từ các nhà máy sử dụng than nhập khẩu, hiện mới chỉ chiếm khoảng 4% tổng sản lượng điện quốc gia. Tại Bangladesh, sản lượng điện từ than đá đã tăng do nguy cơ thiếu hụt khoảng 6,6 GW công suất điện khí.
Tại Philippines, cơ cấu phát điện cũng đang thay đổi khi tỷ trọng điện than tăng lên trong khi điện khí giảm. Việt Nam cũng đang rà soát lại nguồn tài nguyên than trong nước để bảo đảm an ninh năng lượng.
Còn tại Thái Lan, Tổng công ty Phát điện Thái Lan (EGAT) đã thiết lập một “phòng tác chiến” để theo dõi diễn biến thị trường năng lượng 24/24 giờ. Năm 2025, khoảng 60% điện năng của Thái Lan được sản xuất từ khí đốt, trong đó 10% nguồn cung đến từ Qatar-quốc gia đang bị gián đoạn sản xuất khí.
Trước tình hình này, Thái Lan đã đàm phán tăng sản lượng khai thác khí tại các mỏ trong nước, Myanmar và khu vực hợp tác với Malaysia.
Đồng thời, EGAT cũng chuẩn bị tăng sản lượng điện từ than đá, trong đó có việc tận dụng lại nhà máy Mae Moh-cơ sở phát thải CO₂ lớn nhất của nước này-với công suất có thể đạt 1,1 GW, dù trước đó đã có kế hoạch đóng cửa vào năm 2048.
Cơ sở sản xuất khí đốt Amur của Nga. (Ảnh: TASS/TTXVN)
Tại Đông Bắc Á, Hàn Quốc và Nhật Bản cũng đang tăng cường sử dụng các nhà máy nhiệt điện chạy than như một nguồn dự phòng. Theo bà Xiaonan Feng, chuyên gia của Công ty tư vấn năng lượng Wood Mackenzie, than đá vẫn đóng vai trò “nguồn dự trữ chiến lược” trong những giai đoạn thị trường năng lượng biến động.
Chính phủ Hàn Quốc đã quyết định tạm thời dỡ bỏ giới hạn công suất 80% đối với các nhà máy nhiệt điện chạy than, cho phép 61 nhà máy vận hành tối đa công suất. Đồng thời, 6 lò phản ứng hạt nhân đang tạm dừng cũng sẽ được khởi động lại sớm hơn kế hoạch.
Tại Nhật Bản, Chính phủ chưa đưa ra quyết định chính thức về việc đẩy nhanh tái khởi động các nhà máy điện hạt nhân. Tuy nhiên, ông Yuichiro Tamaki, lãnh đạo một đảng đối lập lớn, cảnh báo rằng nếu không tận dụng tối đa nguồn điện hạt nhân, chi phí điện năng sẽ tăng mạnh.
Ông Yukio Kani, Giám đốc điều hành Công ty Jera-doanh nghiệp năng lượng lớn của Nhật Bản-cho biết nước này có thể phải khởi động lại các nhà máy nhiệt điện chạy than đã ngừng hoạt động nhưng chưa bị tháo dỡ, nếu khủng hoảng kéo dài. Năm 2025, khoảng 30% điện năng của Nhật Bản được sản xuất từ than đá.
Trong bối cảnh khu vực chịu nhiều áp lực, Trung Quốc được đánh giá là ít bị tác động hơn. Theo số liệu của công ty phân tích dữ liệu Kpler, mặc dù nhập khẩu hơn một nửa lượng dầu từ Trung Đông, Trung Quốc sở hữu kho dự trữ khoảng 1,2 tỷ thùng, tương đương 204 ngày nhập khẩu.
Ngoài ra, Trung Quốc cũng có cơ chế điều tiết giúp hạn chế biến động giá dầu khi giá chưa vượt ngưỡng 130 USD/thùng. Đặc biệt, tỷ trọng khí đốt trong cơ cấu năng lượng của nước này chỉ khoảng 8%, theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế, cùng với năng lực phát triển năng lượng tái tạo lớn, giúp giảm phụ thuộc vào nguồn cung khí nhập khẩu.
Trong khi đó, theo Giám đốc điều hành Cơ quan Năng lượng Quốc tế, ông Fatih Birol, công suất điện hạt nhân đang được xây dựng trên toàn cầu hiện đã đạt khoảng 70 GW-mức cao nhất trong 4 thập kỷ qua, đánh dấu sự phục hồi đáng chú ý của nguồn năng lượng này.
Phát biểu tại cuộc họp báo ở Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) ngày 12/3, ông nhận định năng lượng tái tạo và điện hạt nhân sẽ là hai trụ cột chính của năng lượng sạch. Trong đó, điện hạt nhân vẫn đóng vai trò không thể thiếu như một nguồn cung cấp ổn định, có thể hoạt động liên tục 24/7.
Cùng chia sẻ tại sự kiện, Bộ trưởng Môi trường, Đô thị hóa và Biến đổi Khí hậu Thổ Nhĩ Kỳ Murat Kurum cho biết các cuộc xung đột địa chính trị đã bộc lộ điểm yếu trong chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu. Những diễn biến này đã đưa vấn đề an ninh năng lượng trở lại vị trí ưu tiên hàng đầu trong chiến lược của các quốc gia./.
(TTXVN/Vietnam+)