Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, phát triển thượng nguồn Mekong và gia tăng nhu cầu khai thác nước, vấn đề an ninh nguồn nước tại ĐBSCL đang trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Không chỉ là câu chuyện về thiếu nước, đây còn là bài toán tổng hợp liên quan đến quản trị tài nguyên, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.
TS. Nguyễn Minh Khuyến - Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ NN & MT - Ảnh: V.K.K
Phóng viên Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Minh Khuyến – Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp & Môi trường (NN & MT) nhằm làm rõ thực trạng, chính sách và giải pháp đảm bảo an ninh nguồn nước cho vùng ĐBSCL trong bối cảnh mới.
- Thưa ông, ông đánh giá như thế nào về thực trạng an ninh nguồn nước vùng ĐBSCL hiện nay?
- TS. Nguyễn Minh Khuyến: An ninh nguồn nước tại ĐBSCL hiện đang đối mặt với nhiều thách thức lớn, cả về số lượng lẫn chất lượng. Trước hết, đây là lưu vực sông liên quốc gia, với tổng lượng nước trung bình năm khoảng 488 tỉ m³, trong đó nước mặt chiếm tới 97%. Tuy nhiên, nguồn nước này lại phụ thuộc rất lớn vào các quốc gia thượng nguồn.
Những năm gần đây, dòng chảy từ thượng nguồn về đồng bằng có xu hướng suy giảm rõ rệt. Tại các trạm thủy văn Tân Châu, Châu Đốc, lưu lượng nước giảm trung bình khoảng 13% so với nhiều năm, riêng các năm khô hạn nghiêm trọng như 2015-2016 giảm tới 36% và năm 2019-2020 giảm 28% .
Cùng với đó, tình trạng xâm nhập mặn diễn ra sớm hơn, sâu hơn. Trong các đợt hạn lịch sử, ranh mặn 4‰ đã xâm nhập sâu tới 70km, thậm chí có nơi lên đến 85km trên các sông chính.
Ngoài ra, chỉ số an ninh nguồn nước quốc gia của Việt Nam hiện mới đạt khoảng 2/5, phản ánh mức độ đảm bảo an ninh nguồn nước còn thấp, hiệu quả khai thác, sử dụng và quản lý nguồn nước còn hạn chế. Đây là cảnh báo quan trọng để chúng ta cần có những điều chỉnh kịp thời.
Mùa hạn ở ĐBSCL - Ảnh: C.K
- Những nguyên nhân chính nào đang gây áp lực lên an ninh nguồn nước của vùng, thưa ông?
- TS. Nguyễn Minh Khuyến: Có thể khái quát các nguyên nhân thành ba nhóm chính.
Thứ nhất là yếu tố phụ thuộc nguồn nước từ bên ngoài. Khoảng 95% lượng nước của ĐBSCL đến từ thượng nguồn sông Mekong. Việc các quốc gia trong lưu vực phát triển thủy điện, chuyển nước và khai thác tài nguyên đã làm thay đổi dòng chảy tự nhiên, ảnh hưởng trực tiếp đến hạ lưu.
Thứ hai là áp lực từ phát triển kinh tế - xã hội trong vùng. Tổng lượng nước khai thác tại ĐBSCL hiện khoảng 32,25 tỉ m³ mỗi năm, trong đó phần lớn phục vụ nông nghiệp và thủy sản. Đồng thời, lượng nước thải từ sinh hoạt, công nghiệp gia tăng nhanh, nhiều nơi chưa được xử lý đạt chuẩn, gây ô nhiễm nguồn nước.
Thứ ba là tác động của biến đổi khí hậu. Mực nước biển dâng, triều cường gia tăng (trung bình tăng khoảng 12cm trong 25 năm qua) và các hiện tượng cực đoan như hạn hán kéo dài đã làm gia tăng nguy cơ thiếu nước và xâm nhập mặn.
Ngoài ra, mâu thuẫn trong khai thác và sử dụng nước giữa các ngành, các địa phương cũng ngày càng rõ rệt, đòi hỏi phải có cơ chế điều phối hiệu quả hơn.
- Trước những thách thức đó, hệ thống chính sách hiện nay đã có những điểm mới gì để đảm bảo an ninh nguồn nước?
- TS. Nguyễn Minh Khuyến: Đến nay, hệ thống chính sách về tài nguyên nước đã có nhiều đổi mới quan trọng, đặc biệt là Luật Tài nguyên nước với các định hướng mang tính chiến lược.
Luật đã xác định 4 nhóm chính sách lớn, bao gồm: bảo đảm an ninh nguồn nước, xã hội hóa ngành nước, phát triển kinh tế tài nguyên nước và bảo vệ tài nguyên nước gắn với phòng chống tác hại do nước gây ra.
Một điểm mới rất quan trọng là chuyển từ cách quản lý hành chính sang kết hợp với các công cụ kinh tế và công nghệ. Việc quản trị tài nguyên nước sẽ dựa trên nền tảng số, ứng dụng công nghệ như Internet vạn vật (IoT) để quan trắc, thu thập dữ liệu và hỗ trợ ra quyết định.
Mùa hạn mặn dòng nước ĐBSCL cũng cạn kiệt - Ảnh: C.K
Bên cạnh đó, Luật cũng quy định rõ về việc duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông, kiểm soát khai thác nước dưới đất, phân vùng chức năng nguồn nước và bảo vệ các hệ sinh thái liên quan.
Đặc biệt, vấn đề đảm bảo an ninh nguồn nước cho sinh hoạt được đặt lên hàng đầu, thể hiện quan điểm lấy con người làm trung tâm trong quản lý tài nguyên nước.
- Trong thời gian tới, đâu là những nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm để đảm bảo an ninh nguồn nước cho ĐBSCL?
- TS.Nguyễn Minh Khuyến: Trong thời gian tới, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó có một số nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất là thực hiện hiệu quả quy hoạch tài nguyên nước giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Quy hoạch này đã chỉ ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể về: định hướng tối ưu hóa lợi ích từ nguồn nước Mekong, đồng thời tăng cường khả năng trữ nước và điều tiết nước trong nội vùng.
Thứ hai là phát triển hệ thống cấp nước liên vùng, đặc biệt khai thác nguồn nước từ các sông lớn như sông Tiền, sông Hậu để cấp nước cho các khu vực thường xuyên bị hạn mặn như ven biển và bán đảo Cà Mau.
Thứ ba là tăng cường khả năng trữ nước, nhất là tại các vùng như Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười. Việc xây dựng các hồ chứa quy mô phù hợp và vận hành hiệu quả hệ thống thủy lợi là rất cần thiết.
Thứ tư là kiểm soát chặt chẽ khai thác nước dưới đất, đảm bảo không vượt ngưỡng cho phép, đặc biệt ở các khu vực ven biển.
Thứ năm là tăng cường quản lý chất lượng nước, kiểm soát nguồn thải và đảm bảo 100% nước thải đô thị được xử lý đạt chuẩn trước khi xả ra môi trường theo mục tiêu đề ra đến năm 2030.
ĐBSCL cần đủ nước hướng tới sản xuất lúa gạo chất lượng cao và bền vững - Ảnh: T.L
Ngoài ra, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý, hướng tới 100% các vị trí giám sát dòng chảy xuyên biên giới được theo dõi tự động, trực tuyến.
Cuối cùng, việc công bố và vận hành các kịch bản nguồn nước sẽ giúp các địa phương chủ động hơn trong xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng nước, qua đó giảm thiểu rủi ro do hạn hán và xâm nhập mặn.
An ninh nguồn nước tại ĐBSCL đang đứng trước những thách thức chưa từng có, nhưng cũng mở ra cơ hội để đổi mới tư duy quản lý theo hướng hiện đại, bền vững. Với hệ thống chính sách ngày càng hoàn thiện và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, ĐBSCL hoàn toàn có thể chủ động thích ứng, đảm bảo nguồn nước cho phát triển lâu dài.
Văn Kim Khanh