Những “điểm nghẽn” mang tính hệ thống
Năm 2025 đánh dấu một giai đoạn đặc biệt bất lợi của thủy văn Việt Nam, khi các hiện tượng cực đoan không chỉ gia tăng về cường độ mà còn chồng lấn, cộng hưởng trên phạm vi toàn quốc. Ngập lụt diện rộng xảy ra tại nhiều đô thị lớn, trong khi hạn hán gay gắt, xâm nhập mặn đến sớm tiếp tục hoành hành ở Đồng bằng sông Cửu Long và Nam Trung Bộ, đặt ra những thách thức chưa từng có đối với công tác quản lý tài nguyên nước.
GS.TS Đào Xuân Học, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng: "Bài toán tài nguyên nước vượt khỏi ranh giới địa phương"
GS.TS Đào Xuân Học, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng: "Điều đáng lo ngại không chỉ nằm ở tính cực đoan của thời tiết do biến đổi khí hậu, mà ở chỗ các vấn đề về nước hiện nay đã vượt ra khỏi phạm vi từng địa phương, từng ngành, trở thành bài toán an ninh quốc gia, gắn chặt với phát triển bền vững, bảo đảm an sinh xã hội và ổn định kinh tế lâu dài. Thực tế năm 2025 cho thấy, các hiện tượng ngập lụt, hạn hán, xâm nhập mặn không xảy ra riêng lẻ mà đan xen, tác động lẫn nhau. Điều này phản ánh rõ những bất cập mang tính hệ thống trong quản trị tài nguyên nước".
Thứ nhất, năng lực tiêu thoát nước ở tầm vĩ mô chưa đáp ứng yêu cầu. Ở nhiều đô thị lớn, đặc biệt là Hà Nội, hệ thống trạm bơm, kênh dẫn, sông tiêu chính chưa hoàn thiện hoặc chưa được vận hành đúng công suất thiết kế. Nước mưa đô thị không thoát được ra các sông lớn, dẫn tới tình trạng “nghẽn đầu ra”, khiến ngập úng kéo dài ngay cả với những trận mưa không quá lớn.
Thứ hai, sự thiếu gắn kết giữa quy hoạch đô thị và quy hoạch thủy lợi đang làm gia tăng rủi ro. Nhiều khu dân cư, khu đô thị mới được xây dựng tại các vùng trũng, vùng thoát lũ tự nhiên nhưng thiếu giải pháp hạ tầng tương ứng, khiến nguy cơ ngập lụt ngày càng nghiêm trọng.
Thứ ba, quản lý tài nguyên nước còn bị chia cắt theo ngành và theo địa giới hành chính, trong khi nước vận động theo quy luật lưu vực tự nhiên. Sự phân mảnh này khiến việc điều phối, vận hành và ứng phó thiếu đồng bộ, chậm trễ và kém hiệu quả.
“Biến đổi khí hậu làm mưa bão cực đoan hơn là điều không thể phủ nhận. Nhưng nếu hệ thống được quy hoạch và vận hành tốt, thiệt hại hoàn toàn có thể giảm đi rất nhiều”, GS.TS Đào Xuân Học nhấn mạnh.
Khi quy hoạch và vận hành không còn theo kịp thực tiễn
Một thực tế đáng suy ngẫm là nhiều quy hoạch được xây dựng trong bối cảnh cũ, khi biến đổi khí hậu chưa biểu hiện rõ rệt như hiện nay. Các thông số thiết kế về mưa, lũ, dòng chảy đã không còn phù hợp, nhưng chậm được điều chỉnh.
Ảnh minh họa
Bên cạnh đó, không ít công trình thủy lợi, hồ chứa được đầu tư nhưng thiếu sự kết nối tổng thể. Hồ chứa ở thượng nguồn tích nước nhưng không gắn với yêu cầu duy trì dòng chảy hạ du; trong khi hệ thống sông, kênh tiêu ở hạ du chậm được nạo vét, mở rộng, làm suy giảm khả năng tiêu thoát.
Cách vận hành cũng bộc lộ nhiều bất cập. Ở một số nơi, việc vận hành hồ chứa còn thiên về mục tiêu phát điện hoặc tích nước, trong khi mục tiêu phòng lũ, bảo đảm dòng chảy chưa được coi trọng đúng mức, dẫn tới những hệ quả khó lường trong các tình huống thời tiết cực đoan.
Năm 2025, lần đầu tiên ghi nhận lũ đặc biệt lớn, lũ lịch sử cùng xuất hiện trên hơn 20 con sông, với mực nước đỉnh lũ vượt mốc lịch sử ở Bắc Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên và hạ lưu sông Cửu Long. Ngập lụt nghiêm trọng xảy ra tại nhiều đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM, Thái Nguyên…, cho thấy tính dễ tổn thương của hệ thống hiện hữu. Việc xây dựng các kịch bản tài nguyên nước trong thời gian qua được đánh giá là một bước chuyển quan trọng về tư duy, giúp nhiều địa phương chủ động điều chỉnh lịch thời vụ, cơ cấu cây trồng và giảm đáng kể thiệt hại.
Tuy nhiên, theo GS.TS Đào Xuân Học, để trở thành bước ngoặt thực sự, quản trị tài nguyên nước chủ động không thể chỉ dừng lại ở chủ trương hay kịch bản, mà đòi hỏi hệ thống dữ liệu đồng bộ, năng lực dự báo đủ mạnh và cơ chế điều phối rõ ràng giữa các ngành, các địa phương trong cùng lưu vực. Thực tế cho thấy, dữ liệu hiện nay còn phân tán, chia cắt; việc chia sẻ thông tin chưa thông suốt; trách nhiệm và thẩm quyền của các thiết chế quản lý lưu vực, đặc biệt là ủy ban lưu vực sông, chưa được phân định rõ ràng.
Ba ưu tiên chiến lược cho nhiệm kỳ tới
Theo GS.TS Đào Xuân Học, điều kiện tiên quyết để tạo đột phá là trao thực quyền cho các ủy ban lưu vực sông. Các ủy ban này cần được giao quyền điều phối, giám sát và có tiếng nói quyết định trong phân bổ nguồn nước, vận hành liên hồ, kiểm soát ô nhiễm và phòng, chống thiên tai trên toàn lưu vực.
Ảnh minh họa
Cùng với đó là bộ máy chuyên trách đủ năng lực, hoạt động thường xuyên, không mang tính kiêm nhiệm, cùng cơ chế tài chính ổn định. Kinh nghiệm quốc tế từ Hà Lan, Australia, Pháp cho thấy, quản lý lưu vực sông hiệu quả luôn gắn với đội ngũ chuyên môn mạnh và nguồn lực tài chính bền vững.
"Nông nghiệp hiện vẫn là lĩnh vực sử dụng nhiều nước nhất. Tuy nhiên, Việt Nam không thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp, vấn đề nằm ở cách sử dụng và bảo vệ nguồn nước. Ba thay đổi mang tính bắt buộc là phát triển nông nghiệp sạch, giảm ô nhiễm nguồn nước; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiết kiệm nước, đặc biệt là tưới luân phiên khô – ẩm cho lúa nhằm tiết kiệm nước và giảm phát thải khí mê-tan; và bảo đảm tính đồng bộ trong các quy hoạch phát triển, từ tài nguyên nước, thủy lợi đến đô thị và giao thông", GS.TS Đào Xuân Học chia sẻ.
Để bảo đảm an ninh nguồn nước một cách thực chất và bền vững, GS. Đào Xuân Học đề xuất ba nhóm ưu tiên chiến lược: hoàn thiện thể chế và năng lực quản trị tài nguyên nước theo lưu vực; tăng cường quản lý tổng hợp nguồn nước gắn với phòng, chống thiên tai; và kiểm soát chặt chẽ an toàn công trình thủy lợi, quy trình vận hành hồ chứa.
“Quản lý tài nguyên nước phải dựa trên không gian tự nhiên của dòng chảy, thay vì ranh giới hành chính. Chỉ khi lợi ích và trách nhiệm được gắn kết chặt chẽ, chúng ta mới có thể bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia trong dài hạn”, GS. Đào Xuân Học khẳng định.
Văn Ngân/VOV.VN