Nước thải chưa qua xử lý xả ra môi trường trong khu Đại học Quốc gia Hà Nội (cơ sở Hòa Lạc).
Ô nhiễm nước mặt ngày càng nghiêm trọng
Thời gian qua, người dân thành phố Hà Nội không còn xa lạ với những cảnh tượng nước sông đen, hôi thối và đầy rác thải. Các sông như: Tô Lịch, Kim Ngưu, Sét, Lừ, Nhuệ... trở thành kênh thoát nước thải. Tình trạng kéo dài nhiều năm từ nội đô đến ngoại thành. Có những khu vực, nước sông bị ô nhiễm hữu cơ vượt xa quy chuẩn cho phép, làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng nước sông. Kết quả quan trắc cho thấy, nhiều điểm trên sông Nhuệ - Đáy có chỉ số chất lượng nước (WQI) dưới mức 50, thậm chí một số điểm quan trắc nằm dưới ngưỡng 25 - mức độ nước bị ô nhiễm nặng, không thể sử dụng cho sinh hoạt hay sản xuất. Đặc biệt, dòng nước sông Nhuệ đoạn qua khu vực Hà Đông đến cống Nhật Tựu ghi nhận chỉ số WQI từ 10-25, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý và chất thải làng nghề.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, không chỉ các sông, hồ tại thành phố Hà Nội bị ô nhiễm, hệ thống sông, hồ ở các tỉnh, thành phố như: Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh… cũng có mức ô nhiễm hữu cơ, dầu mỡ vượt ngưỡng tiêu chuẩn 1,5-3 lần.
Từ những con sông lớn đến các kênh mương nhỏ, tình trạng ô nhiễm nguồn nước đang trực tiếp tác động đến đời sống người dân. Bà Nguyễn Thị Lan (xã Đại Thanh, Hà Nội) cho biết: "Nước sông Nhuệ ngày càng kém chất lượng đến mức không thể dùng vào sản xuất hay sinh hoạt, thậm chí người dân lo ngại về ảnh hưởng lâu dài tới sức khỏe nếu tiếp xúc nước ô nhiễm mỗi ngày".
Công cụ kinh tế bắt buộc trong bảo vệ nguồn nước
Thực trạng ô nhiễm sông ngòi đòi hỏi phải có các biện pháp quyết liệt hơn để kiểm soát nước thải sinh hoạt từ hộ gia đình và khu dân cư. Trưởng phòng Kinh tế xã Quang Minh Phùng Công Thế cho rằng, thu phí là “giải pháp công bằng”, khi người sử dụng nước càng nhiều, lượng nước thải sinh hoạt xả ra càng lớn thì phải đóng góp tương xứng cho việc xử lý môi trường.
Các chuyên gia môi trường nhận định, phí nước thải nên được coi là công cụ kinh tế bắt buộc trong bảo vệ nguồn nước - một dạng điều tiết xã hội nhằm khuyến khích tiết kiệm nguồn, giảm lượng thải ra hệ thống và đầu tư vào xử lý nước thải tập trung, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách nhà nước hoặc các dự án đầu tư riêng lẻ.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội Nguyễn Minh Tấn khẳng định, chính sách thu phí nước thải sinh hoạt không chỉ tạo nguồn tài chính bền vững cho hệ thống xử lý nước thải mà còn là công cụ giáo dục, thay đổi nhận thức cộng đồng, khiến mỗi hộ gia đình phải “tự vấn trách nhiệm” trước hành động xả thải gây thiệt hại chung.
Bên cạnh đó, nhiều người dân kiến nghị, chính quyền cần sớm hoàn thiện hệ thống thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt - hiện còn thiếu trạm xử lý hoặc hoạt động chưa đạt hiệu quả mong muốn, dẫn đến việc thu phí nhưng chưa thể chuyển đổi thành kết quả môi trường cụ thể. Ông Nguyễn Sĩ Tính (phường Hà Đông, Hà Nội) cho rằng, nếu chính sách thu phí “chỉ là lấy tiền mà không cải thiện chất lượng môi trường”, thì sẽ gặp phản ứng ngược từ cộng đồng.
Quan trọng hơn, chính quyền địa phương, cơ quan chức năng cần công khai việc sử dụng nguồn phí này, tránh tình trạng người dân chỉ thấy thu mà không thấy hiệu quả của chính sách. Hơn nữa, nếu thực hiện nghiêm túc và minh bạch, Nghị định số 346/2025/NĐ-CP sẽ giúp người dân hiểu rằng bảo vệ môi trường không chỉ là khẩu hiệu, mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội.
Ô nhiễm nguồn nước trên các hệ thống sông đang trở thành thách thức môi trường tại Việt Nam, tác động tiêu cực đến sức khỏe và sinh kế người dân... Do đó, việc thu phí nước thải sinh hoạt là giải pháp cần thiết, phù hợp xu hướng quản lý môi trường hiện đại, giúp huy động nguồn lực tài chính ổn định để xử lý nước thải và thay đổi hành vi xả thải trong cộng đồng.
Trưởng phòng Quản lý môi trường (Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội) Nguyễn Trọng Nhất:
Cần thiết phải thu phí nước thải sinh hoạt
Nghị định số 346/2025/NĐ-CP của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt là bước tiến cần thiết trong bối cảnh ô nhiễm nguồn nước trở thành vấn đề nghiêm trọng. Trong thời gian dài, xã hội quen với việc sử dụng nước sạch như quyền lợi hiển nhiên, trong khi hệ quả là lượng nước thải xả ra môi trường ngày càng lớn nhưng thiếu nguồn lực xử lý tương xứng.
Việc quy định mức phí bằng 10% giá bán 1m³ nước sạch, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng, theo tôi là hợp lý và có tính điều tiết hành vi. Phí không quá cao để gây phản ứng tiêu cực, nhưng đủ để nhắc nhở mỗi người rằng, việc sử dụng nước luôn đi kèm trách nhiệm với môi trường. Tuy nhiên, để nghị định thực sự đi vào cuộc sống, cần minh bạch việc sử dụng nguồn thu từ phí. Người dân có quyền được biết khoản tiền họ đóng góp được đầu tư ra sao, có thực sự quay trở lại cải thiện môi trường nước hay không.
Phó Trưởng phòng Kinh tế xã Kiều Phú Trần Hùng:
Muốn thuận lòng dân, tuyên truyền phải đi trước
Ở cấp cơ sở, Nghị định số 346/2025/NĐ-CP là chính sách tác động trực tiếp đến từng hộ gia đình, từng hóa đơn sinh hoạt hằng tháng. Vì vậy, nếu chỉ triển khai thu phí mà thiếu tuyên truyền, giải thích đầy đủ ngay từ đầu thì rất dễ phát sinh tâm lý băn khoăn, thậm chí phản ứng trong nhân dân. Điểm thuận lợi của nghị định là quy định cụ thể, rõ ràng, từ đối tượng chịu phí, mức phí đến các trường hợp được miễn. Đây là cơ sở quan trọng để các xã, phường triển khai thống nhất, tránh tình trạng mỗi nơi hiểu một cách.
Tuy nhiên, điều người dân quan tâm không chỉ là “đóng bao nhiêu”, mà là “đóng để làm gì”. Theo tôi, công tác tuyên truyền cần gắn với các vấn đề cụ thể trên địa bàn, như tình trạng ô nhiễm kênh mương, quá tải hệ thống thoát nước. Khi người dân thấy rõ phí bảo vệ môi trường được sử dụng để cải thiện chính những vấn đề họ đang bức xúc, sự đồng thuận sẽ cao hơn nhiều.
Ông Đỗ Tiến Trung (phường Giảng Võ, Hà Nội):
Đóng phí là trách nhiệm, nhưng cần công bằng và minh bạch
Là người dân, khi nghe đến việc thu thêm phí, không tránh khỏi tâm lý lo lắng. Tuy nhiên, khi tìm hiểu kỹ Nghị định số 346/2025/NĐ-CP, tôi cho rằng, việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt là hợp lý. Mỗi ngày, chúng ta sử dụng nước sạch và xả ra môi trường lượng nước thải tương ứng. Nếu không có kinh phí xử lý, chính nguồn nước ấy sẽ quay lại gây hại cho cộng đồng. Mức phí bằng 10% giá nước sạch, tính theo lượng sử dụng, là tương đối công bằng. Ai dùng nhiều nước, xả nhiều nước thải thì đóng góp nhiều hơn. Điều này cũng khuyến khích người dân tiết kiệm nước trong sinh hoạt hằng ngày. Chính sách như vậy vừa thể hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường, vừa bảo đảm công bằng xã hội.
Hơn nữa, nếu được thực hiện nghiêm túc và minh bạch, Nghị định số 346/2025/NĐ-CP sẽ giúp người dân hiểu rằng bảo vệ môi trường không chỉ là khẩu hiệu, mà còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội.
Đức Duy ghi
Hoàng Văn