Vừa chạm môi đã nghe gió lành thổi khẽ, vài giọt sương từ đâu đó buông vào lòng chén như một lời mời tha thiết. Chị Hoàng Thị Thúy Vân, Giám đốc Hợp tác xã An Vân Trà, cho biết ý tưởng thành lập Hợp tác xã chuyên về chè sạch. Khi đã công tác ở miền Nam, nhưng chị cứ khắc khoải về những nương chè quê hương. Nhà ba đời làm chè. Ý tưởng trở về xây dựng thương hiệu chè sạch hữu cơ bắt đầu vào năm 2019, đến năm 2020 thì mô hình chính thức đi vào hoạt động.
Năm 2022, chị thành lập Hợp tác xã An Vân Trà. Diện tích ban đầu chỉ có 3.650m2, khi nhiều hộ dân tham gia diện tích tăng lên 14.600m2, sản lượng ước đạt 50 đến 60kg chè tươi trên một sào Bắc Bộ (360m2), tương ứng với 10 đến 13kg chè khô. Chị giải thích chữ An cho tên gọi An Vân Trà chính là mục đích của Hợp tác xã làm trà sạch thuận tự nhiên, không hóa chất, mang đến sự an tâm cho người tiêu dùng, an vui cho người sản xuất; an lành cho môi sinh.
Theo số liệu số liệu thống kê, toàn tỉnh hiện có 22.300ha chè, trong đó hơn 6.600ha được cấp chứng nhận chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ. Trên tổng số diện tích 6.600ha ấy, mới có hơn 186ha được cấp chứng chỉ chè hữu cơ, qua đó đủ biết sản xuất chè hữu cơ vất vả chừng nào.
Tôi hỏi chị Vân sản xuất chè hữu cơ khó khăn là vậy, vì sao chị lại chọn con đường này?
Chị kể: Những người trẻ tuổi xa quê nay trở về phải yêu quê, yêu chè nhiều lắm, bởi còn nhiều công việc nhàn hạ hơn, thu nhập cao hơn. Những cây chè cổ này là bạn từ thuở ấu thơ của tôi, mồ hôi của ông bà, cha mẹ tôi đã nhỏ xuống mỗi ngày. Ngoài mục đích kinh tế, tôi làm còn để trả nợ nghĩa tình cho quê hương. Chúng tôi quyết tâm làm trà hữu cơ bởi vì trà ngon phải là trà sạch, tốt cho môi sinh cho người dùng. Tôi đã sáng tạo ra phương pháp “Tự dưỡng thuận theo tự nhiên”, sử dụng giống chè cổ trung du và đã bước đầu thành công. Chè của Hợp tác xã phải đủ bốn nhăm ngày mới thu hái.
Phương pháp tự dưỡng và việc sử dụng giống trà cổ trung du đã tạo ra sự khác biệt. Nhiều người thường nghĩ nếu không phun thuốc trừ sâu cây lấy gì chống chọi với sâu bệnh? Câu hỏi này đã chạm tới gốc rễ của một triết lý canh tác bền vững, hướng tới một nền nông nghiệp xanh. Tôi thuận theo tự nhiên, trao quyền cho tự nhiên, trước hết là coi trọng sức đề kháng tự nhiên của cây chè.
Cũng như nhiều loài cây khác, giống như con người, trải qua mấy trăm năm, cây chè cũng có hệ miễn dịch riêng của nó. Cây được trồng trên đất khỏe nhiều mùn, nhiều vi sinh vật sẽ phát triển khỏe khoắn, ít bị sâu bệnh tấn công. Khi có hệ sinh thái cân bằng thiên địch sẽ xuất hiện. Không cần dùng thuốc trừ sâu, các loại côn trùng có lợi như nhện, ong ký sinh, bọ rùa... sẽ quay trở lại, giúp kiểm soát sâu bệnh một cách tự nhiên, không cần sự can thiệp của hóa học.
Cỏ là lá chắn sinh học tuyệt vời. Tôi tự đặt ra một châm ngôn cho mình “Cỏ là bạn của nhà nông. Cỏ là dinh dưỡng của cây chè”. Cỏ không chỉ giữ ẩm cho đất mà còn là nơi trú ngụ cho nhiều loại sinh vật có lợi, chống xói mòn, chống rửa trôi.
Điểm khác biệt nổi bật của An Vân Trà so với các hợp tác xã sản xuất chè hữu cơ khác? Nói thật ngắn gọn, đó là chọn giống chè phù hợp. Chúng tôi có lẽ là trong nhóm ít người làm chè đến bây giờ vẫn chọn giống chè cổ trung du. Chúng tôi chọn chè cổ trung du có nguồn gốc từ sườn Đông Tam Đảo.
Khi chọn giống chè phù hợp, canh tác đúng thời vụ và có chế độ tự dưỡng cho đất, cho cây, sẽ thu được kết quả như mong muốn. Trong khi các hợp tác xã khác, các hộ gia đình khác đều chọn giống chè lai cao sản trồng bằng cành có năng suất cao. Giống chè lai hiện chiếm hơn 80% diện tích tại vùng chè huyện Đại Từ (cũ). Nhưng Hợp tác xã vẫn yêu thích giống chè cổ trung du bởi cây có khả năng chống chọi sâu bệnh tốt hơn, bộ rễ ăn sâu vững chãi, vòng đời dài hơn rất nhiều so với các giống chè lai.
Được canh tác với phương pháp tự dưỡng thuận theo tự nhiên, qua đối chứng, năng suất giống chè cổ không hề thua kém so với giống chè lai. Phương pháp tự dưỡng của chúng tôi khước từ mọi loại hóa chất. Dù theo chỉ dẫn của Trung tâm Khuyến nông và Môi trường tỉnh là được phép sử dụng phân bón, thuốc hóa học theo danh mục đã được quy định nhưng chúng tôi vẫn chỉ sử dụng đỗ tương làm phân bón, dùng cỏ làm lá chắn sinh học.
Những nương chè có nhiều sâu bệnh tấn công, sẽ nghiền nhỏ gừng, tỏi, ớt pha với rượu để phun chống sâu bọ. Qua thực tế, phương pháp canh tác này đã giảm được khoảng gần 50% chi phí cho canh tác, chè có năng suất tốt. Thậm chí có năm năng suất chè trung du cổ hữu cơ vượt hơn năng suất của chè trung du cổ canh tác vô cơ.
Khi nhìn một chiếc lá chè bị sâu cắn rách, chúng tôi vui mừng, vì đó là dấu hiệu khu vườn đang sống thật, sống khỏe. "Một vài chiếc lá sâu cắn đổi lại một hệ sinh thái cân bằng, cho ra đời những sản phẩm chè an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng, chẳng hạnh phúc lắm sao". Chúng tôi không phun thuốc sâu hay bón phân hóa học, bởi chúng tôi tin vào quy luật của tự nhiên, vào sự sống bất diệt và kỳ diệu trong và trên mặt đất này, vào khả năng tự bảo vệ của cây trồng khi gặp điều kiện thuận lợi do con người trao tặng.
Mô hình chè hữu cơ của tôi đã đạt chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm Quốc Tế ISO22000-2019. Chu kỳ thu hái chè cũng được điều chỉnh. Thay vì thu hái liên tục để tối đa hóa sản lượng, cây chè được để phát triển trong khoảng thời gian dài hơn, trung bình khoảng 45 ngày mới thu hoạch. Khoảng thời gian này cho phép lá tích lũy đầy đủ các hợp chất sinh học như polyphenol và amino acid, đồng thời giúp cây có thời gian phục hồi. Việc giảm tần suất thu hái cũng làm giảm áp lực lên hệ sinh thái, góp phần duy trì sức khỏe lâu dài của cây.
Để thực hiện thành công mô hình sản xuất chè hữu cơ, Hợp tác xã đã theo học các khóa vi sinh và nông nghiệp tự nhiên.
Bác Hoàng Văn Truyền, cha của chị Hoàng Thị Thúy Vân, hồ hởi kể: Để sản xuất chè hữu cơ thành công, đầu tiên phải nhờ đất khỏe. Cụ kỵ, ông bà tôi đã gắn bó trăm năm với giống chè cổ trung du này. Ở vùng chè khác còn xác định được những cây chè đầu tiên mang từ Phú Thọ về trồng vào năm bao nhiêu? Còn ở đây, các cụ tôi, khi còn bé, đã vặt lá cây chè tím ở Tam Đảo về chữa đau bụng, đã uống chè này mà tĩnh tâm sáng trí…
Nhẩn nha nhấp một ngụm chè, bác Truyền chia sẻ: Những năm 90 của thế kỷ 20, khi thời tiết chuyển sang mùa đông, mọi người thường bảo, mấy tháng mùa đông phải để cho “chè ngủ”. Nhưng vợ chồng tôi là người tiên phong gánh nước tưới chè làm vụ đông trước sự dè bỉu của bao nhiêu người. Phải gánh tới hơn 6.000 gánh nước tưới để đảm bảo độ ẩm cho chè. Thật bõ công khi chè lên lên búp tua tủa, non tươi mỡ màng bán rất đắt hàng. Khi đó giá chè mùa đông tại Hà Nội bán 2kg chè khô mua được một chỉ vàng. Thấy hiệu quả, bao nhiêu người bắt chước làm theo.
Chị Hoàng Thị Nghiệp, chị gái của chị Hoàng Thị Thúy Vân, tiếp lời: Chúng đồng cam cộng khổ với An Vân Trà từ ngày đầu tiên, vất vả lắm khi làm cái loại chè “còn nguyên sâu này”. Đến uống rồi khách lắc đầu quầy quậy, vì họ đã quen với trà truyền thống, cứ hỏi “sao không ngọt, sao không thơm như mọi khi”? “Sao vị chè lại mộc mạc chân quê thế này”? Giải thích thế nào họ cũng không hiểu, không mua nữa, chúng tôi buồn chảy nước mắt. Trao trà sạch mà khách không hiểu. Con đường của chè sạch hữu cơ cũng đầy khó khăn.
Tuy nhiên chúng tôi không nản lòng mà vẫn kiên trì với mục đích ban đầu. Nhờ truyền thống gần 50 năm gắn bó với cây chè và phát huy nghề chè, từ các nương chè ở địa thế đặc biệt ven sườn Tam Đảo, nơi tiếp giáp với đỉnh cao nhất của dãy Tam Đảo này, nơi có khí hậu đặc biệt ôn hòa, mưa nhiều, có suối đầu nguồn trong vắt, nhiều sản phẩm của An Vân Trà đã được khách hàng gần xa ưa chuộng và tìm mua. Đó là sản phẩm Vị trà xưa; Trà pha chế; Trà dành tặng phụ nữ; Trà dành cho gia đình và văn phòng; Trà sẻ chia; Hồng nhan trà; Trà Tết tri âm; Trà Bạch Thành Phong…
Với diện tích hơn 186ha chè hữu cơ trên tổng số 22.300ha diện tích chè của toàn tỉnh là rất khiêm tốn. Do đó những người sản xuất chè hữu cơ cần lắm sự định hướng, hỗ trợ từ các cấp quản lý địa phương. Như vay vốn ưu đãi, đăng ký sản xuất theo mô hình sản xuất chè hữu cơ Việt Nam theo quy định TCVN11041-2; 2017, có chế tài phân định rạch ròi giữa chè hữu cơ và chè sử dụng hóa học trong bộ nhận diện và truy xuất nguồn gốc…
Chị Hoàng Thị Thúy Vân chia sẻ thêm: Chè có phun thuốc trừ sâu, bón phân hóa học nếu được áp dụng theo đúng quy trình cũng rất ngon và sạch. Tuy nhiên, với các sản phẩm của Hợp tác xã chúng tôi thử nghiệm là sử dụng giống chè cổ trung du và áp dụng phương pháp “tự dưỡng” nên chúng tôi mong muốn các cấp ngành chức năng khuyến khích và hỗ trợ cả về kỹ thuật và quảng bá sản phẩm.
Cùng chung tay xây dựng một trung tâm hỗ trợ quảng bá, giao dịch Trà Thái Nguyên với hai khu rõ ràng, Trà Hữu cơ và Trà Vô cơ, nơi ấy giới thiệu, cung cấp các loại phân vi sinh đảm bảo chất lượng. Đồng thời, có thực nghiệm, nghiên cứu, so sánh chất lượng, năng suất để thấy chè cổ trung du với chè lai có những điểm hơn kém gì. Từ đó có cơ sở khoa học để thông tin tới các cơ sở canh tác, chế biến chè. Đặc biệt hỗ trợ số hóa để các doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất chè đăng ký thuận lợi hơn về chất lượng sản phẩm, đăng ký bản quyền, truy xuất nguồn gốc sản phẩm cho người tiêu dùng được dễ dàng hơn. Và cũng là đầu mối để tiếp thị, giao dịch mua bán các sản phẩm hữu cơ trong nước và với quốc tế bằng hai phương thức vừa trực tiếp vừa gián tiếp qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Tổ chức các cuộc thi và cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn Trà Hữu cơ an toàn. Quan trọng hơn nữa trung tâm phối hợp với các trường Đại học Nông nghiệp, Lâm nghiệp mở các lớp tập huấn về canh tác chế biến trà hữu cơ đây chính là đầu mối để giới thiệu nhân lực đang ngày càng khan hiếm cho các doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất chè sạch hữu cơ.
Những cây chè trung du như những con người dũng cảm, tâm huyết muốn đóng góp làm giàu cho quê hương. Hương chè thoảng trong hương mưa như một lời thầm thì của thiên nhiên. Những con người khởi nghiệp dũng cảm như chị Vân, chị Nghiệp, bác Truyền và nhiều người khác nữa đều khát vọng cống hiến cho quê hương, cho cộng đồng qua những cây chè cổ trung du.
Họ mong muốn các cấp quản lý từ cấp xã đến cấp tỉnh có cơ chế, chính sách phù hợp, có tổ chức để liên kết thành một khối thống nhất trong phát triển chè sạch hữu cơ. Đây cũng đúng theo tinh thần của Nghị quyết 11-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về phát triển ngành chè Thái Nguyên giai đoạn 2025-2030 xác định cây chè là cây chủ lực để làm giàu cho Thái Nguyên, đưa Thái Nguyên không chỉ là địa phương có vùng chè lớn nhất cả nước và còn là một trung tâm chế biến, phân phối xuất khẩu chè lớn nhất của cả quốc gia.
Trên đường trở về, chúng tôi đi qua nhưng khu du lịch sinh thái xanh mát mắt. Các nương chè mơn mởn nằm ven suối Cửa Tử thuộc xã xã La Bằng, tỉnh Thái Nguyên như đang mời gọi. Sản phẩm chè đã đi vào các khu du lịch sinh thái để trở thành các món quà kỷ niệm giàu ý nghĩa văn hóa cho khách muôn phương.
Suối Cửa Tử mát lành, chảy tha thiết như một câu Then, câu Lượn. Tiếng cười vang ấm con đường mới trải nhựa từ quốc lộ chạy vào trung tâm của xã La Bằng. Hai bên đường san sát những ngôi nhà khang trang, dân giàu thì nước mạnh. Sau lưng hình như những cây chè cổ thụ trên sườn Đông Tam Đảo đang gửi lời thì thầm theo gió, có hàng ngàn lá chè xanh nõn như những bàn tay xanh xinh xắn đang vẫy chào.
Chúng tôi trở về mà lòng lưu luyến, trái tim muốn ở lại với đồi chè đẹp nhất Thái Nguyên đang đón gió, đón mưa và đón cả tình yêu của bao nhiêu khách thập phương về với Thái Nguyên, về với cây chè cổ trung du về với sự thơm thảo của lòng người.
Với một tầm nhìn chiến lược cho ngành trà Thái Nguyên của cấp lãnh đạo tỉnh Thái Nguyên từ xã tới tỉnh, một vùng chè an toàn, sạch đã và sẽ đem đến sức khỏe, niềm tin cho người tiêu dùng trong nước và quốc tế, đây chính là mục đích cao đẹp mang tính lâu dài.
Chúng ta đã và đang thực hiện mục tiêu đó có kế hoạch, có chiến lược rõ ràng và đã thu được nhiều kết quả khả quan, nhưng cần và có đủ điều kiện để làm tốt hơn nữa. Đặc biệt với vùng chè hữu cơ tạo ra sản phẩm chè sạch an toàn. Hy vọng những diện tích trồng chè hữu cơ được mở rộng để những sản phẩm thuần tự nhiên được nhân lên trong tương lai gần.
Theo Trung tâm Khuyến nông và Môi trường tỉnh Thái Nguyên, kết thúc giai đoạn thí điểm thứ nhất vào năm 2023, toàn tỉnh có 6 HTX, tổ hợp tác lớn sản xuất chè hữu cơ, quản lý khoảng 60ha. Đó là các HTX Tâm Trà Việt, Tiến Yên, Hảo Đạt, Văn Hán, La Bằng, Nhật Thức...
Tỉnh Thái Nguyên tiếp tục chủ trương mở rộng các HTX chè hữu cơ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Giai đoạn thí điểm thứ hai thực hiện sau năm 2023, với 7 mô hình HTX sản xuất chè hữu cơ, trên diện tích 40ha. Các mô hình mới là HTX chè Khe Cốc 2, HTX chè Tuất Thoi liên kết với HTX chè La Bằng, HTX chè La Cút liên kết với Công ty cổ phần chè Hà Thái...
Đến nay, toàn tỉnh có hơn 186ha chè hữu cơ. Giá bán ngày càng được tăng lên, đã có nhiều lô hàng chè hữu cơ được xuất khẩu sang các thị trường Âu Mỹ...
Đức Hạnh