Cô bán vé thu tiền, và nói: “Tới Mộc Bài con cho bà xuống”. “Con cháu mô mà không dẫn đi?”, anh tài xế quay lại hỏi. “Đi làm hết, mình còn đi được, không nhờ sắp hắn”. “Như bà, lớn tuổi rồi là được miễn phí xe buýt đó, có căn cước là được”.
Hình như bà không nghe rõ, liền nói: “Đi khám tư, miễn chi, cần chi căn cước. Đi trễ còn bị ổng la”. “Không, xe buýt miễn, nếu qua tuổi 70”. “À, bà 72 tuổi rồi”. “Dạ, nãy bà không nói, chừ con xé vé mất rồi…”. “Ời, thì trả tiền”. Bà nói ngay, như chẳng có chút tiếc nuối nào khi vô tình bỏ lỡ cơ hội. Cô nhân viên chọc: “Chắc bà nhiều tiền?”. “Mô có con, già rồi, làm ruộng, tiền mô! Tau còn có 20 ngàn đồng đây. Mà con nhớ cho bà xuống Mộc Bài hỉ!”. Bà cười.
Xe buýt bây giờ chạy có điểm dừng, đón rõ ràng, không đụng đâu phanh đó. Đi vài lần, nghe ông bà già cứ thắc mắc “Răng không cho tau xuống, chạy chi xa lắc ri đi bộ chi nổi?”. Cám cảnh. Tuổi già, đâu phải ai cũng có phúc phận con cháu đón đưa.
Để ý thấy, người già lên xe buýt, nên có chỗ riêng, thắt dây an toàn cho họ. Đã có chuyện một bà ngồi không vững, bị ngã rách mặt.
Bà ở Mộc Bài xõa tóc ra cột lại. Đen nhiều, trắng ít, nói rổn rảng, ngó bộ còn khỏe lắm. Bà ngó mọi người trong xe buýt một lượt, rồi nói: “Đi xe ni mát hè, có mô hồi nớ đi xe nóng sôi, chật cứng, kêu như máy gạo, thở không nổi. Có chuyện chi mới đi, già rồi, ngồi một chỗ cũng mệt chứ nói là đi”. Còn đi được, là còn sức sống. Nhưng đi một mình, dù tiện hay không, ở người già, cũng dễ làm cám cảnh kẻ quan sát.
Con người mãi mãi là kẻ đơn côi, độc hành. Cuộc sống là những bước chân, dù có điểm tựa đi nữa, song hành đi nữa, thì cũng tự mình mà đi, cho đến khi về với đất. Đi hay không, kết cục như nhau, nhưng nằm một chỗ khi đã già, không đi nổi, thì đó là sự bất lực oan nghiệt, là trò chơi cay đắng của tạo hóa đối với con người, khi đã rút kiệt họ trên vạn dặm đường đời.
Gương mặt xạm đen, nếp nhăn như sóng xô ngang dọc mỗi khi bà cười, nói, như nợ đời đã trả, hiện hết lên. Đôi mắt còn tinh lắm, rõ là thần khí rất vững. “Mà con - bà hỏi cô nhân viên - xe ni chạy miết hả”. “Dạ”. Bà lẩm bẩm: “Chừ xe nhiều, ngó chóng mặt, chạy kinh”, rồi bật ra một câu khiến cả xe cười ầm, nhất là mấy sinh viên: “Hồi trước đi xe khác chừ, hay nói chuyện, chừ thấy ai cũng không thèm ngó ai, có điện thoại coi cái chi chi trong nớ mà coi miết”.
Tôi nghe, giật mình, không phải vì đôi mắt quan sát tinh tế của người già, mà là cái nhìn đơn độc lộ sáng buồn bã giữa đám đông. Ở đâu, người già cũng có nhu cầu chia sẻ. Dù có một mình với mảnh vườn ở quê hay con cháu đầy đàn trong phố, thì ở họ, nói chuyện không phải là nhiều chuyện, mà là bắt cầu với hiện tại, khi con người ta mà tuổi đã qua thất thập thì sống với ký ức chiếm sóng phần lớn.
Chẳng trách người già ở quê, ra phố với con cái nhiều người đòi về với vườn, có hàng xóm, bà con, vô ra không thèm để ý trộm cướp, im lặng bên luống rau, con gà mà thực ra là đối thoại với ký ức lẫn hiện tại quen thuộc. Chính họ cần con cháu vây quanh, nhưng phải là không gian quen thuộc, và hơn cả điều đó, là nói chuyện. Con cái cần họ, nhưng có đủ lý do để xa họ, dù ở cùng nhà.
Bỗng thấy mấy chục cây số xe buýt như kéo bà già vô nhịp sống như mấy người già ở làng lúc rảnh kéo ghế ngồi nói chuyện thiên trời địa đất. Sự bất lực tuổi già lẫn nhu cầu tuổi trẻ, càng ngày càng đẩy hai bên dạt dài ra hai phía. Chẳng ai có lỗi. Tôi chẳng nghe bà than thở. Xe dừng ở trạm Mộc Bài, bà xuống, tôi ngoái qua cửa nhìn, thấy bà đứng lẻ loi trong cái nắng ong đầu. Bỗng nhớ hình ảnh má tôi 35 năm trước đưa tôi đi lên xe ra Huế học, xe chạy, còn lại mình bà nón lá áo mưa tơi tả nhìn theo…
TRUNG VIỆT