Mỗi đảng viên là một “kháng thể” sống
Trong cấu trúc xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thiết chế dòng họ giữ vai trò là trục quyền lực tinh thần tối cao, chi phối sâu sắc từ nhận thức đến hành vi của từng cá nhân. Các thế lực thù địch hiểu rất rõ điều này nên luôn tìm cách thâm nhập, biến các dòng họ thành những “ốc đảo” khép kín nhằm chống đối chính quyền. Đối sách của Đảng ta là phải chuyển hóa sức mạnh huyết thống thành “pháo đài mềm” bảo vệ nền tảng tư tưởng.
Sự chuyển biến trong việc cải cách lề lối ma chay của đồng bào người Mông, người Dao tại Tuyên Quang là một minh chứng lịch sử. Điển hình như anh Sùng Mí Vư, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Du Tiến (nay là Du Già), một người con hiếu thảo nhưng mang tư duy đổi mới. Trước sự bủa vây của hủ tục ma chay kéo dài nhiều ngày, giết mổ gia súc tràn lan làm khánh kiệt kinh tế, anh Vư nhận thức sâu sắc rằng: “Nếu tuyên truyền bằng văn bản hành chính phân định đúng - sai, chính quyền chắc chắn nắm phần thua”.
Không chỉ là trưởng thôn uy tín, ông Phàn Giào Vạng (bên phải) còn là cầu nối đưa chủ trương của Đảng đến gần hơn với đồng bào Dao.
Bởi vậy, năm 2019, khi bố ruột lâm trọng bệnh, anh Vư đã chủ động ghi âm lại nguyện vọng cuối đời của ông: “Muốn được đặt thân xác vào áo quan gọn gàng trước khi làm lễ”. Đoạn ghi âm ấy không chỉ là di ngôn, mà biến thành thứ “vũ khí” phá vỡ tầng băng hủ tục truyền đời. Bởi trong quan niệm đạo lý của người Mông, lời trăng trối của người sắp khuất là thiêng liêng và không thể chối cãi.
Anh Vư đã khéo léo đặt chủ trương nếp sống mới vào chung một con thuyền với đạo hiếu. Cộng đồng bỗng nhận ra: Đưa người thân vào áo quan không phải là bất kính, mà là tuân lời người khuất, là sự văn minh. Từ điểm sáng tại gia đình anh Vư, luồng tư tưởng mới nhanh chóng lan tỏa. Tính đến nay, 12/12 dòng họ người Mông tại địa phương đã ký cam kết mai táng văn minh.
Mô hình này nhanh chóng lan tỏa thành phong trào tự quản của các dòng họ lớn ở địa phương. Điển hình tại xã Bằng Lang, dòng họ Nguyễn Bảo Quang đã đưa các tiêu chí “không tảo hôn, không bạo lực, không vi phạm pháp luật” vào gia phả.
Ấn tượng hơn nữa là câu chuyện của ông Phàn Giào Vạng, Trưởng thôn Khá Hạ, xã Tân Quang - nơi 100% đồng bào Dao sinh sống. Đứng trước vấn nạn tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống đang bào mòn nòi giống người Dao, ông Vạng không dùng biên bản xử phạt của chính quyền, mà kích hoạt “bản án danh dự” của cộng đồng.
Ông vận động hai dòng họ Phàn và Triệu đưa vào gia phả quy định tẩy chay đám cưới tảo hôn. Bất cứ gia đình nào tổ chức cưới tảo hôn, cả làng sẽ tẩy chay, tuyệt đối không ai đến dự, không ai giúp việc; anh em trong họ vi phạm khoảng cách dưới 5 đời kết hôn sẽ bị gạch tên khỏi gia phả.
Bằng cách khéo léo đưa chủ trương của Đảng vào cấu trúc văn hóa bản địa, thay đổi phần “ngọn” (hủ tục) nhưng vẫn giữ chặt phần “gốc” (tính cố kết cộng đồng), những đảng viên, người uy tín đã tạo ra một sức đề kháng tự nhiên.
Dùng văn hóa để tự thanh lọc văn hóa
Nếu thiết chế dòng họ được ví như những “pháo đài mềm” giữ gìn nền nếp bản làng, thì đội ngũ người có uy tín, từ già làng, trưởng bản đến các nghệ nhân chính là những “cột mốc sống” bảo vệ chủ quyền văn hóa. Với 3.406 người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, đây là lực lượng nòng cốt đặc biệt quan trọng trên mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Ông Bàn Văn Tiến là truyền nhân đời thứ 23 làm thầy Tào của người Dao ở thôn Minh Lợi, xã Trung Sơn. Nhận thức được nguyên lý “một dân tộc mất chữ viết và tiếng nói là một dân tộc bị tước đoạt vũ khí tự vệ văn hóa, tạo khoảng trống cho ngoại lai và tà đạo xâm nhập”, ông miệt mài truyền dạy chữ Nôm Dao và điệu Páo dung cho các thế hệ kế cận. Đặc biệt, dựa vào vốn hiểu biết uyên thâm, ông đã vận động cắt bỏ các nghi lễ rườm rà, tổ chức đám cưới từ 3 ngày 3 đêm xuống còn 2 ngày 1 đêm; rút ngắn lễ cấp sắc từ 7 ngày xuống còn 2 ngày. Qua đó giúp bao gia đình khỏi cảnh bần cùng hóa vì nghi lễ tốn kém.
Còn Nghệ nhân Nhân dân Sìn Văn Phong, thôn My Bắc, xã Tân Trịnh là truyền nhân đời thứ 5 và là người đã vươn tới bậc 8, cảnh giới cao nhất của nghề thầy cúng. Từ tiếng nói uy tín của ông, hương ước thôn đã đưa nội dung tang ma từ trên 48 giờ xuống tối đa không quá 24 giờ, mức trần chi phí cúng bái dưới mức 300.000 đồng và nghiêm cấm mọi hành vi giết mổ nhiều gia súc gây lãng phí.
Thực tế trên cho thấy, ông Phong đã dùng chính tâm linh để xóa bỏ sự lạm quyền của tâm linh, qua đó truyền đi thông điệp: Một nền văn hóa muốn trường tồn phải biết tự điều chỉnh để loại bỏ những phần lạc hậu, phản tiến bộ. Sự “tự thanh lọc” ấy biến văn hóa dân tộc thành một lá chắn thép, không cho phép bất cứ một thế lực phản động hay luận điệu tà giáo nào có cơ hội thao túng tâm lý đồng bào.
Dựng “pháo đài mềm” bện chặt thế trận lòng dân
Tại không ít bản làng của Tuyên Quang luôn tồn tại những cuộc chiến không tiếng súng nhưng lại vô cùng khốc liệt. Đó là cuộc đấu trí giữa ánh sáng của nhận thức tiến bộ với bóng tối của mê tín dị đoan, tà đạo; giữa việc gìn giữ nền nếp văn hóa truyền thống tốt đẹp với việc bài trừ hủ tục đã len lỏi, ăn sâu bám rễ vào đời sống cộng đồng qua hàng thế kỷ.
Khi tà đạo “San sư khẻ tọ” trỗi dậy, đánh trúng vào những “vùng lõm” thông tin để gieo rắc sự hoang tưởng, hệ thống chính trị cơ sở đối mặt với bài toán tư tưởng tinh vi: Phải bóc trần bản chất mị dân của tà đạo bằng chính sự thấu cảm và nghệ thuật thu phục nhân tâm.
Thực tiễn đấu tranh đã xuất hiện những tấm gương đảng viên kiên trung, mưu trí, hành động bằng tư duy dân vận sắc sảo. Điển hình là đồng chí Sùng Mí Nô, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Lũng Chinh (nay là Sủng Máng). Để cảm hóa một đối tượng cầm đầu tà đạo “San sư khẻ tọ” vốn ngoan cố, cô lập bản thân với chính quyền, đồng chí Sùng Mí Nô đã không dùng lý lẽ hành chính cứng nhắc.
Anh chủ động tiếp cận, chia sẻ sinh kế, và đỉnh cao của nghệ thuật dân vận là quyết định kết nghĩa, nhận đối tượng cầm đầu làm “bố nuôi”. Bằng sợi dây tình cảm gia đình thiêng liêng theo phong tục bản địa, kết hợp với sự phân tích thấu tình đạt lý, người đảng viên trẻ đã từng bước “giải mã” sự u mê, thuyết phục “bố nuôi” tự nguyện từ bỏ tà đạo, quay về với bàn thờ tổ tiên.
Sự sáng tạo của cá nhân hay dòng họ sẽ chỉ là những đốm lửa nhỏ lẻ nếu không có sự định hướng của Đảng. Bản lĩnh ấy được cụ thể hóa bằng Nghị quyết số 89 của Tỉnh ủy Tuyên Quang về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bài trừ hủ tục, phong tục lạc hậu, xây dựng nếp sống văn minh. Vận dụng sâu sắc phương châm dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”, Nghị quyết 89 ra đời với tư duy đột phá: “Xác định hệ thống chính trị làm nhiệm vụ - lấy người dân làm chủ thể - lấy cộng đồng làm không gian điều chỉnh hành vi”.
Với 128 Đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy, 1.543 tổ chức cơ sở Đảng, 3.532 chi bộ trực thuộc Đảng ủy cấp trên cơ sở, cùng hơn 136.000 đảng viên, Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đang có hệ thống “siêu kháng thể” phủ kín bản làng. Hệ thống này bám chặt vào từng tấc đất biên cương, từng mái nhà sàn, từng bếp lửa vùng cao để thực hiện vai trò “giải mã”, bóc tách các luồng độc tố trước khi chúng kịp bén rễ vào tâm lý, tư tưởng của một bộ phận người dân.
Điển hình như cách làm của Chi bộ thôn 2, xã Yên Minh. Thấu hiểu nỗi đau khánh kiệt kinh tế vì giết mổ nhiều gia súc trong tổ chức tang ma của đồng bào Mông, Chi bộ thôn 2 đã ban hành Nghị quyết chuyên đề cải tiến đám tang, cụ thể hóa thành quy tắc “5 không”: Thi thể không để quá 48 giờ; không trả lễ bằng gia súc; không nhận vòng hoa, bức trướng; không sử dụng quá 2 cây nêu; không rắc vàng mã ra đường.
Cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới là một cuộc chiến lâu dài, nhiều thử thách. Nhưng chừng nào mỗi đảng viên dấn thân làm một “kháng thể sống”, mỗi chi bộ còn thắp sáng vai trò của một “trạm giải mã văn hóa”, dám đối diện và chuyển hóa những vùng tối của mê tín, hủ tục, thì chừng đó, không một mầm mống tà đạo hay thế lực thù địch nào có thể đầu độc được tư tưởng Nhân dân.
(Còn nữa)
Bài, ảnh: Chúc Huyền, Giang Lam, Thu Phương, Biện Luân
► Bài 1: Dã tâm “bứt gốc” văn hóa nơi phên giậu