Bài cuối: Hiện thực hóa mục tiêu đưa dự trữ thành nguồn lực chiến lược

Bài cuối: Hiện thực hóa mục tiêu đưa dự trữ thành nguồn lực chiến lược
2 giờ trướcBài gốc
Bài 1: Nâng tầm vai trò của dự trữ quốc gia
Bài 2: Dự trữ chiến lược - thu hút nguồn lực xã hội, bảo đảm tự chủ quốc gia
PV: Thưa ông, thời gian qua, thuật ngữ “dự trữ chiến lược” được nhắc đến rất nhiều bên cạnh khái niệm dự trữ quốc gia truyền thống. Xin ông chia sẻ vì sao chúng ta phải đổi mới chính sách dự trữ trong giai đoạn hiện nay và ý nghĩa của sự chuyển đổi này là gì?
Ông Bùi Tuấn Minh
Ông Bùi Tuấn Minh: Để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, thực chất, việc đổi mới chính sách dự trữ quốc gia là yêu cầu cấp thiết.
Trước đây, hệ thống dự trữ quốc gia của chúng ta mới chỉ tập trung thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu cứu trợ, hỗ trợ, viện trợ thông qua phương thức dự trữ bằng vật tư, thiết bị, hàng hóa phục vụ các yêu cầu đột xuất, cấp bách về thiên tai, dịch bệnh. Tuy nhiên, thế giới hiện nay đang trải qua những biến động nhanh chóng và khó lường, đặc trưng bởi xu hướng đa cực, cạnh tranh chiến lược gay gắt.
Trước bối cảnh đó, Nghị quyết số 39-NQ/TW và Nghị quyết 79-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cầu mới: Dự trữ quốc gia không chỉ phục vụ cứu trợ khẩn cấp mà cần từng bước phát triển thành nguồn dự trữ chiến lược, góp phần bảo đảm an ninh kinh tế, tài chính, năng lượng và lương thực, đồng thời hỗ trợ ổn định thị trường. Tại Kết luận số 115-KL/TW, Bộ Chính trị một lần nữa nhấn mạnh dự trữ phải trở thành công cụ phục vụ điều tiết thị trường để đảm bảo nền kinh tế vận hành ổn định, hiệu quả.
Đặc biệt, quy mô dự trữ của chúng ta hiện nay còn quá mỏng, dự toán chi mua hàng dự trữ quốc gia giai đoạn vừa qua chỉ chiếm khoảng 0,05% GDP. Đây là mức rất thấp để có thể can thiệp mạnh mẽ vào thị trường khi có sự cố. Do đó, Đảng và Nhà nước đã đặt mục tiêu chiến lược đầy tham vọng: phấn đấu tổng mức dự trữ quốc gia đạt tối thiểu 1% GDP vào năm 2030 và đạt 2% GDP vào năm 2045. Đổi mới chính sách là con đường duy nhất để chúng ta hiện thực hóa mục tiêu này, tạo ra năng lực phục hồi tốt trước những cú sốc kinh tế và xây dựng chiến lược phát triển tự chủ.
PV: Với mục tiêu nâng quy mô dự trữ lên 1 - 2% GDP, ngân sách nhà nước khó có thể gánh vác toàn bộ. Dự thảo nghị định hướng dẫn Luật Dự trữ quốc gia 2025 cũng như dự thảo sửa đổi Chiến lược phát triển dự trữ quốc gia nhấn mạnh đến việc thu hút khu vực tư nhân. Xin ông phân tích rõ hơn về sự tham gia của doanh nghiệp cùng với cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này?
Ông Bùi Tuấn Minh: Việc mở ra hướng đi cho các kênh dự trữ chiến lược thực sự là một cơ hội rất tốt cho doanh nghiệp, đồng thời giúp đa dạng hóa nguồn lực và phương thức dự trữ chung. Đây là một bước tiến mang tính đột phá về tư duy kinh tế.
Thứ nhất, về mặt ý nghĩa, sự tham gia của doanh nghiệp giúp chúng ta giải quyết bài toán thiếu hụt nguồn lực từ ngân sách, đồng thời tận dụng được hạ tầng kho bãi, nhân lực và công nghệ bảo quản tiên tiến của khu vực tư nhân. Nhà nước không cần phải bỏ ra 100% vốn để mua đứt hàng hóa và xây kho, mà có thể kết hợp dự trữ nhà nước với dự trữ xã hội hóa đối với hàng dự trữ chiến lược theo nguyên tắc thị trường.
Thứ hai, để khơi thông dòng vốn này, dự thảo các Nghị định đang thiết kế một loạt chính sách ưu đãi dành cho các tổ chức, doanh nghiệp tham gia.
Cụ thể, doanh nghiệp không phải chịu thuế giá trị gia tăng khi nhập khẩu hàng dự trữ chiến lược; các chi phí có liên quan trực tiếp đến hoạt động nhập, xuất, mua, bán, bảo quản hàng dự trữ chiến lược của doanh nghiệp sẽ được giảm trừ chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Về đất đai, doanh nghiệp sẽ được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, hoặc cho thuê đất và miễn tiền thuê đất đã hoàn thành giải phóng mặt bằng để xây dựng kho bãi bảo quản hàng dự trữ chiến lược. Về tài chính, doanh nghiệp được ưu tiên xem xét cho vay các gói vay ưu đãi lãi suất thấp từ ngân hàng chính sách khi vay vốn phục vụ hoạt động nhập, xuất, bảo quản hàng dự trữ chiến lược hoặc được cấp bảo lãnh tín dụng khi tham gia các hoạt động liên quan đến nhập, xuất, bảo quản hàng dự trữ chiến lược.
Khi doanh nghiệp và cơ quan quản lý đồng hành, chúng ta sẽ tạo ra một mạng lưới dự trữ trải rộng, linh hoạt, gắn liền với chuỗi cung ứng thực tế, từ đó nâng cao tính chủ động và tiết kiệm tối đa nguồn lực xã hội.
Điểm kho ĐK6.KV5 (điểm kho Điện Biên), Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực V. Ảnh: Đức Thanh
PV: Chính sách đã mở đường, ưu đãi đã sẵn sàng. Vậy làm sao để những chính sách vĩ mô này thực sự đi vào cuộc sống, thưa ông? Trong tiến trình đó, Cục Dự trữ Nhà nước sẽ đóng vai trò như thế nào để hệ thống vận hành hiệu quả?
Ông Bùi Tuấn Minh: Để chính sách đi vào cuộc sống, chúng ta cần triển khai đồng bộ ba nhóm giải pháp cốt lõi: Phân cấp phân quyền, hiện đại hóa hạ tầng số, và kiện toàn vai trò quản lý nhà nước.
Trước hết là tăng cường phân cấp, phân quyền. Luật Dự trữ quốc gia mới và các dự thảo Nghị định hướng dẫn đã phân quyền triệt để thẩm quyền quyết định nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia từ Thủ tướng Chính phủ xuống cho Bộ trưởng Bộ Tài chính và Thủ trưởng các bộ, cơ quan ngang bộ quản lý hàng dự trữ. Điều này đảm bảo các cơ chế vận hành thực thi được thông thoáng, có thể triển khai được ngay, tăng tính chủ động cho các đơn vị trong thực tiễn xử lý các tình huống cấp bách.
Thứ hai là chuyển đổi số và hiện đại hóa. Chúng ta không thể quản lý một hệ thống dự trữ chiếm 1% GDP bằng phương pháp thủ công. Dự án “Xây dựng Trung tâm giám sát và điều hành Dự trữ quốc gia” được triển khai sẽ giúp quản lý, giám sát toàn trình các hoạt động dự trữ xuyên suốt từ trung ương đến địa phương trên môi trường số. Chúng ta cũng sẽ ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) để dự báo nhu cầu và điều hành xuất cấp minh bạch, chính xác.
Về vai trò của Cục Dự trữ Nhà nước, chúng tôi là cơ quan trực tiếp tham mưu hoàn thiện thể chế nhằm cụ thể hóa các quan điểm, định hướng mới của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, Cục sẽ đảm nhận chức năng tham mưu giúp Bộ Tài chính thực hiện quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia. Vai trò của chúng tôi không chỉ là người “giữ kho” mà là người “nhạc trưởng” điều phối: từ việc rà soát danh mục hàng, xây dựng kế hoạch dự trữ, đến việc thực hiện kiểm tra chuyên ngành để kịp thời xử lý các vi phạm, đảm bảo không thất thoát tài sản nhà nước và duy trì sự minh bạch.
PV: Ông có kỳ vọng gì về tương lai của lĩnh vực dự trữ khi hệ thống chính sách mới về dự trữ quốc gia và dự trữ chiến lược được hoàn thiện?
Ông Bùi Tuấn Minh: Sự ra đời của Luật Dự trữ quốc gia 2025 và hệ thống các chính sách hướng dẫn thực thi mới là một dấu ấn đặc biệt quan trọng. Kỳ vọng lớn nhất của chúng tôi là dự trữ quốc gia phải hướng tới mục tiêu đảm bảo chiến lược, tạo nền tảng để đất nước tự chủ chiến lược, nhất là tự chủ về an ninh kinh tế và quốc phòng, đặt trong bối cảnh tình hình mới của khu vực và thế giới.
Khi thể chế mới được hoàn thiện, chúng tôi tin tưởng rằng Việt Nam sẽ có một hệ thống dự trữ mạnh về quy mô, linh hoạt về phương thức và hiện đại về công nghệ. Hệ thống đó không chỉ làm tốt vai trò truyền thống là cứu trợ người dân khi thiên tai, thảm họa xảy ra, mà sẽ trở thành một nền tảng vững chắc, một tấm lá chắn an toàn bảo vệ nền kinh tế trước mọi cú sốc, đảm bảo sự phát triển bền vững và phồn vinh của đất nước trong kỷ nguyên mới.
PV: Xin cảm ơn ông.
Hoàng Yến
Nguồn Thời báo Tài chính : https://thoibaotaichinhvietnam.vn/bai-cuoi-hien-thuc-hoa-muc-tieu-dua-du-tru-thanh-nguon-luc-chien-luoc-197229.html