Đền thờ Bảng nhãn Trịnh Thiết Trường ở thôn Đắc Trí, xã Định Hòa.
Từ thần đồng...
Tài liệu lịch sử cho biết, do hoàn cảnh bố mất sớm, gia cảnh nghèo khó nên Trịnh Thiết Trường thường đi chăn trâu cho người trong làng để đỡ đần giúp mẹ. Vào những buổi thả trâu ngoài đồng, cậu thường cùng bọn trẻ con lấy đất sét nặn đồ chơi. Trong đó, con voi nặn bằng đất sét của cậu còn biết đi lại, cử động.
Nguyên do, Trịnh Thiết Trường bắt 4 con cua gắn dưới chân voi, bắt con đỉa làm vòi voi, 2 con bướm làm tai voi. Nhờ đó mà con voi đất sét di chuyển, vẫy tai, ngoe nguẩy vòi thật sinh động. Lũ trẻ chăn trâu thích thú, đều học làm theo. Một hôm, có viên quan đi qua cánh đồng, thấy bọn trẻ vui đùa thích thú thì lấy làm lạ, dừng lại hỏi thì mới biết là do có con voi đất sét “biết đi”. Khi biết trò chơi do cậu bé Trịnh Thiết Trường nghĩ ra, viên quan liền cho lính gọi lại. Thấy cậu bé chăn trâu mặt mũi sáng láng, đối đáp nhanh nhảu, viên quan liền ra vế đối: “Lũ trẻ chỉ mày khéo”, yêu cầu Thiết Trường đối lại. Vốn tính láu lỉnh, Thiết Trường đề nghị viên quan thưởng tiền cho mình trước, rồi thủng thẳng đối: “Quan huyện có ông hiền”. Vế đối chuẩn chỉnh khiến viên quan hài lòng. Biết thêm gia cảnh của đứa trẻ nghèo khó, ông liền nhận giúp đỡ, hứa sẽ nuôi ăn học thành tài.
Nhờ chăm chỉ đèn sách, tiếng tăm văn hay chữ tốt của Trịnh Thiết Trường đã lan truyền khắp vùng. Đáng nói hơn là ông còn mở lớp dạy học tại quê nhà, học trò khắp nơi tìm về xin học.
...Đến hai lần đỗ bảng vàng
Năm Nhâm Tuất (1442), nhà Hậu Lê đã cho mở khoa thi đầu tiên để kén chọn người tài. Sách Những Bảng nhãn trong lịch sử Việt Nam có chép: “Ông cùng với học trò giỏi của mình là Nguyễn Nguyên Chẩn (người Hải Dương) trẩy kinh ứng thí. Hai thầy trò quyết tâm phải có tên trong hàng Tam khôi mới
thỏa nguyện”.
Trước khi đi thi, ông hạ quyết tâm thi đỗ Tiến sĩ cập đệ (xếp hàng trong tam khôi: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa). Tuy nhiên, khi yết bảng vàng, Trịnh Thiết Trường xếp thứ 14 trong số 23 người đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ. Chưa đạt được thứ hạng cao như mục tiêu đề ra, ông xin chưa nhận mũ áo vua ban và xin đi thi lại. Việc làm của ông đã khiến sĩ tử trong nước sửng sốt, vua Lê Thái Tông lấy làm lạ cho triệu vào cung. Khi vua hỏi lý do, Trịnh Thiết Trường tâu rằng: May được sinh ở đời thánh đế, thần không phải không muốn làm quan nhưng vì muốn có tên trong hàng tam khôi cho xứng với cái học. Nay chưa đạt được ý nguyện nên về học thêm để thi lại.
Phía sau câu chuyện ấy, người bảo ông dại, người khác thì tấm tắc khen ông là người có chí khí, thế nào cũng đỗ đạt cao, làm nên sự nghiệp lớn.
Miệt mài đèn sách, nỗ lực ôn luyện trong suốt 6 năm, đến khoa thi Mậu Thìn (1448) đời vua Lê Nhân Tông, Trịnh Thiết Trường tiếp tục ứng thí và đỗ Bảng nhãn, đứng thứ hai trong hàng tam khôi.
Không lâu sau, câu chuyện quyết tâm thi lại đạt thứ hạng cao của Bảng nhãn Trịnh Thiết Trường được truyền đến tai vua Lê Nhân Tông. Mến mộ tài đức của Trịnh Thiết Trường, vua đã đem công chúa Thụy Tân gả cho ông, và trọng dụng thăng đến chức Thượng thư bộ Công, tước Nghi quận công.
Bảng nhãn Trịnh Thiết Trường được đánh giá là người cả đời dốc sức phụng sự 3 đời vua Lê. Giữa chốn quan trường, ông vẫn giữ sự cương trực, dám phê phán những đại quan trong triều làm các việc sai trái. Khi là Gián quan trong Ngự sử đài, ông thẳng thắn vạch tội quan Hình bộ Đỗ Tông Nam ăn hối lộ; quan Lại bộ Nguyễn Như Đổ cất nhắc tiến cử kẻ kém tài đức, cũng bị pháp ty trị tội...
Sách Địa chí huyện Yên Định khẳng định: “Trong cuộc đời quan nghiệp, Trịnh Thiết Trường đã từng trải qua nhiều chức vụ quan trọng như Trung thư xá nhân, An phủ sứ lộ Thanh Hóa, Hàn lâm viện thị giảng và cao nhất là Thượng thư Công bộ với tước Nghi Quốc công. Ngoài ra, do trình độ học vấn và tài ứng biến linh hoạt, Trịnh Thiết Trường còn được vua Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông cử đi sứ sang Trung Quốc để tăng cường sự hòa hiếu giữa nước ta với nhà Minh”.
Đại Việt sử ký bản kỷ thực lục cũng ghi rõ: Mùa thu năm Đinh Sửu (1457), bấy giờ Trịnh Thiết Trường đang giữ chức Hàn lâm viện thị giảng được cử làm Phó sứ sang Trung Quốc, mừng vua Minh mới lên ngôi.
Với sự chung tay hỗ trợ của chính quyền và Nhân dân, hệ thống hoành phi câu đối sơn son thếp vàng ở Đền thờ Bảng nhãn Trịnh Thiết Trường được làm tinh xảo và chỉn chu.
Tương truyền triều đình nhà Minh bày trò tổ chức cho sứ bộ ta làm văn thi tài với nhau xem ai cao thấp. Ông tuy chỉ giữ chức phó sứ, nhưng học vị và văn chương hơn viên Chánh sứ là Lê Hy Cát. Nếu cứ thẳng thừng đua tài học thuật, thì phần thắng ông cầm chắc trong tay.
Song ông nghĩ phải giữ quốc thể, không để người nước ngoài thấy sự ganh đua của đoàn sứ bộ nước ta, nên khi làm bài có câu “Thuyền phương Nam, ngựa phương Bắc”, Trịnh Thiết Trường chủ ý viết chữ “mã” là ngựa sót đi một chấm. Khi chấm thi, thấy văn ông đáng xếp loại nhất, nhưng chữ “mã” 4 chấm mà chỉ có 3, ấy là ngựa què, như tỏ ý khinh thường phương Bắc nên truất xuống một bậc.
Khi đoàn sứ bộ trở về nước, triều đình nhà Minh cấp cho ông một con ngựa què, có 3 chân và ra điều kiện không đi được thì phải ở lại. Trịnh Thiết Trường liền lấy miếng gỗ giống chân ngựa buộc vào, rồi nhảy lên yên cầm roi quất. Con ngựa bị đau phải khập khiễng chạy. Vua quan nhà Minh phục ông biết cách ứng xử, bèn đổi cho con ngựa lành.
Sau khi Bảng nhãn Trịnh Thiết Trường qua đời, ở nơi quê nhà, người dân đã lập đền thờ phụng. Tuy nhiên, qua biến thiên thời gian, đền thờ vị Bảng nhãn hai lần ghi danh bảng vàng đã không còn. Năm 2020, chính quyền và Nhân dân đã xây dựng lại đền thờ trong khuôn viên hơn 1.600m2 tại thôn Đắc Trí theo kiến trúc truyền thống hình chữ Đinh, gồm đình chính và hậu cung, hệ thống hoành phi câu đối sơn son thếp vàng cùng nhiều hạng mục như cổng tam quan, nhà bia, bình phong...“Hằng năm vào rằm tháng Giêng, bà con về đây làm lễ lệ làng và dâng hương thờ cúng Bảng nhãn Trịnh Thiết Trường. Tiếc là vì một số nguyên do mà đền thờ chưa thể làm hồ sơ để xét công nhận Di tích văn hóa lịch sử cấp tỉnh”, ông Lê Đình Chuẩn, người trông coi đền cho biết.
Cuộc đời cùng sự nghiệp của Bảng nhãn Trịnh Thiết Trường không chỉ được nhắc đến trong tư liệu địa phương, tên tuổi của ông được khắc trên cả hai tấm bia Tiến sĩ khoa thi Nhâm Tuất (1442) và khoa thi Mậu Thìn (1448) ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Ông chính là tấm gương sáng về tinh thần hiếu học và ý chí quyết tâm vươn lên, thành công trong sự nghiệp để hậu thế mãi ca tụng, lưu truyền.
(Bài viết có sử dụng nội dung trong các sách: Văn tài võ lược xứ Thanh, Địa chí huyện Yên Định, Những Bảng nhãn trong lịch sử Việt Nam...).
Bài và ảnh: CHI ANH