Bảo tồn tên làng cổ

Bảo tồn tên làng cổ
3 giờ trướcBài gốc
Trước hết nói về danh hiệu làng. Thực ra, đơn vị hành chính xưa nay của nước ta không có đơn vị nào gọi là làng. Như đơn vị cơ sở thời phong kiến gồm có xã, thôn, ấp, trại, phường, ty, còn đơn vị hành chính từ Cách mạng Tháng Tám về sau là thôn, ấp.
Vậy thì làng nằm ở đâu? Xin thưa, nằm trong dân gian. Việc giữ “hồn làng” như tác giả Bùi Hoài Sơn đề cập là giữ cái gì? Không phải cái “hồn xóm”, mà làng nếu chiếu vào danh hiệu hành chính nhà nước phong kiến thì đó chính là xã, thôn, ấp, trại, phường, ty, những đơn vị dân cư cơ sở.
Chẳng hạn ở quê tôi thời phong kiến danh hiệu chính thống là xã An Ba, nhưng dân gian luôn gọi là làng An Ba, ngôi đình gọi là đình làng An Ba (chứ không gọi là đình xã An Ba). Kế bên quê tôi có Chú Tượng Ty thôn, tức làng thôn của những người làm nghề đúc. Người ta cũng gọi là làng Chú Tượng, dân của thôn gọi là dân làng Chú Tượng. Tức là, làng không phải hiệu danh chính thống, mà là danh hiệu dân gian thay cho các danh hiệu chính thống: Xã, thôn, trại, ấp, ty. Cũng có khi người ta gọi ghép là làng thôn hay làng xã.
GS Phan Đại Doãn trong sách “Làng xã Việt Nam - một số vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội” (NXB Chính trị Quốc gia, 2000) có viết: “Làng là đơn vị tụ cư dân sự, xã là đơn vị chính quyền cơ sở”. Có thể hiểu các hiệu danh chính thống (làng, xã, thôn…) nặng về hành chính, còn hiệu danh dân gian (làng) nặng về chiều sâu văn hóa và đời sống. Từ sau Cách mạng Tháng Tám đến nay, danh hiệu hành chính cơ sở cũng gọi là xã, thôn, mà không có danh hiệu làng. Nhưng làng vẫn mặc nhiên tồn tại. Đó là nói về ý niệm làng.
Với tên riêng cụ thể của làng lại vô cùng sâu sắc và phong phú. GS Phan Đại Doãn trong tập sách nói trên đã kê ở vùng đồng bằng Bắc Bộ có những tên làng cổ, rất cổ, bằng tên Nôm, tiếng Việt. Nhiều tên làng khác thuộc lớp từ Hán Việt. Có trường hợp một làng xã song song tồn tại tên Hán Việt (chính thống) và tên Nôm (dân gian) như ở quê tôi có thôn Quất Lâm (Hán Việt), dân gian thường gọi là làng Cây Sung.
Có trường hợp một làng xã thường chỉ có một tên gọi duy nhất. Nhưng dù là gì thì nhìn chung tên làng thường xuất hiện từ thuở xa xưa. Nghiên cứu địa danh học, tôi thấy tên xã hoạch định sau Cách mạng Tháng Tám thường được đặt mới, còn tên các làng xã thời phong kiến thì được kế thừa trong tên thôn, đã có nhiều trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm trước.
Như vậy nếu xét về chiều sâu thời gian, tên làng mới thật sự là cổ truyền. Nếu xét về tình cảm con người, sự gắn bó với làng ắt hẳn phải đậm đà hơn là huyện (trước đây) hay là tỉnh. Bởi không gian hẹp phải thiết thân hơn là không gian rộng. Và cũng vì đặc điểm “văn hóa làng xã” như là một đặc trưng nổi bật trong văn hóa Việt Nam mà một số nhà nghiên cứu hay nói đến.
Bởi thế mà tôi hiểu ý tác giả Bùi Hoài Sơn trong việc giữ cái “hồn làng” chính là nên có cách bảo tồn tên gọi các thôn đã có từ xa xưa, nhất là những nơi có truyền thống văn hóa nổi bật (như Làng Hồ với tranh dân gian hay làng Bát Tràng với nghề gốm sứ chẳng hạn) trong khi ta tiến hành sắp xếp lại thôn, tổ dân phố theo chủ trương chung.
Nếu không biết “làng” chính là phần hồn, phần văn hóa rất thiêng liêng của các đơn vị mà xưa kia gọi theo chính thống là xã, thôn, trại, ấp hay thôn, tổ dân phố bây giờ, thì dễ thường người ta thắc mắc hay bắt bẻ: Không có đơn vị nào trong hệ thống hành chính gọi là “làng” thì cái gọi là “hồn làng” biết cái gì mà giữ! Cái tên vẫn chỉ là cái tên, nhưng hẳn nó sẽ truyền lại cái tinh thần truyền thống quý báu từ xưa và không có gì thay thế cho nó được.
CAO CHƯ
Nguồn Văn hóa : http://baovanhoa.vn/van-hoa/bao-ton-ten-lang-co-229722.html