Bầu máu nóng

Bầu máu nóng
7 giờ trướcBài gốc
Đi, để trở về
Bố tôi là một người con của tỉnh Quảng Ngãi, vùng đất giàu truyền thống cách mạng, trong một gia đình gồm tám anh chị em. Ông nội tôi là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1930, từng bị thực dân Pháp bắt và giam cầm tại các nhà lao ở Buôn Ma Thuột và Kon Tum. Sau khi tham gia Việt Minh lãnh đạo cuộc khởi nghĩa năm 1945 thành công ở địa phương, ông đã giữ các cương vị Chủ tịch xã và Ủy viên Ủy ban Kháng chiến huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Ông đã được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng ba.
Liệt sĩ - nhà báo Nguyễn Ngọc Tứ.
Được tắm mình trong bầu không khí cách mạng sục sôi cùng với nhiệt huyết của tuổi trẻ, sau khi học hết lớp 7, bố tôi - Nguyễn Ngọc Tứ “xếp bút nghiên”, tham gia du kích địa phương và thoát ly trở thành đội viên Đội Thanh niên xung phong Liên khu 5 phục vụ công tác hỏa tuyến. Đầu năm 1955, bố tôi cùng Đội Thanh niên xung phong tập kết ra miền bắc xã hội chủ nghĩa.
Cuối năm 1955, bố tôi được tuyển chọn đi học tại Khoa Trung văn, Trường Ngoại ngữ Việt Nam. Sau khi tốt nghiệp năm 1958, ông trở thành cán bộ phiên dịch tại Khoa Trung văn, Trường đại học Sư phạm Hà Nội. Từ năm 1960 - 1962, ông là phóng viên Tạp chí Học tập dịch (nay là Tạp chí Cộng sản).
Ông bắt đầu công tác tại Báo Nhân Dân từ tháng 4/1962, lúc đầu là phóng viên Ban Quốc tế, sau là phóng viên Ban Thống nhất (Ban miền nam). Ngoài công tác chuyên môn, ông còn tích cực tham gia công tác đoàn thể, được tín nhiệm giữ các cương vị như Phó Bí thư chi đoàn Thanh niên Lao động, Tiểu đội phó Tự vệ, Tổ trưởng Công đoàn. Với tinh thần phấn đấu bền bỉ, ông đã được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam tại Đảng bộ Báo Nhân Dân. Người giới thiệu Nguyễn Ngọc Tứ vào Đảng là nhà báo Đặng Phò (Đặng Minh Phương), Bí thư Chi bộ Quốc tế - Thống nhất.
Khi lên đường đi B vào đầu năm 1966, ông đã để lại ở Hà Nội một mái nhà êm ấm, trong đó có người vợ trẻ đang mang bầu bốn tháng và đứa con thơ mới hơn 5 tuổi.
Trong những năm tháng công tác tại chiến trường miền nam, bố tôi là cán bộ thuộc Ban Tuyên huấn và báo Cờ Giải phóng của Liên khu 5. Thời gian này, ông hoạt động cũng như viết bài với các bí danh và bút danh: Từ Ngọc, Kim Giao, Minh Ngọc và Nguyễn Lê Thanh. Cùng với việc viết nhiều bài, tin đăng trên tờ Cờ Giải phóng, bố tôi cùng các đồng chí, đồng đội cũng đã viết nhiều bài gửi từ miền nam ra, và được đăng trang trọng trên Báo Nhân Dân. Đó là những bài báo mang đậm hơi thở của cuộc chiến đấu gian khổ nhưng hào hùng của quân và dân ta nơi tuyến đầu Tổ quốc. Những bài báo đó, của những nhà báo - chiến sĩ gửi về Báo Nhân Dân từ khắp nẻo chiến trường, không chỉ thể hiện tình cảm son sắt của đồng bào miền nam hướng về miền bắc, mà còn khẳng định niềm tin sắt đá của người dân miền nam vào thắng lợi tất yếu của cuộc kháng chiến vĩ đại.
Những bức thư của bố
Hai cha con tác giả.
Tôi vô cùng xúc động mỗi khi có dịp vào thăm Phòng truyền thống của Báo Nhân Dân và được nhìn lại bức thư của bố gửi cho tôi, đặt trang trọng trong một ngăn tủ trưng bày những kỷ vật lịch sử. Bức thư đề ngày 22/6/1967. Đây là bức thư bố tôi đáp lại lá thư đầu tay mà tôi viết cho ông, lúc vừa biết chữ. Khi đó, vào cuối năm 1966, tôi mới đi học lớp 1 và đang sống cùng với ông bà nội tại Nông trường Thống nhất ở xã Liên Nghĩa, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
Bức thư của tôi được gửi đi cùng với thư mà mẹ tôi gửi cho bố. Và tôi nhận được thư trả lời của ông vào những tháng cuối năm 1967. Thư đi và về mất nhiều tháng trời, do phải chuyển theo tuyến giao liên trên đường Trường Sơn mưa bom bão đạn.
Ngoài bức thư gửi cho tôi kể trên, tôi còn được đọc nhiều bức thư chan chứa tình cảm yêu thương mà bố viết từ chiến trường gửi mẹ. Những bức thư này được viết trên giấy pô-luya, hầu hết đều rất dài, nét chữ nhỏ, đều, có thư trên dưới một nghìn chữ, có thư hơn hai nghìn chữ.
Dưới đây là vài đoạn trích:
Vạn Tường, 10 tháng tám 1966,
Nhàn thương yêu,
Anh đang nghỉ trưa trên mảnh đất lịch sử của quê hương viết cho Nhàn bức thư này. Ở đây, giặc Mỹ lại vừa kéo đến, chúng nó đang nống ra từ căn cứ Chu Lai. Đồn giặc cách chỗ anh ngồi hơn hai cây số...
Chưa bao giờ đi vào gần đồn địch mà anh lại cảm thấy bình tĩnh như vậy - bởi vì thấy được lòng dân, dựa được vào nhân dân, lòng thấy vững, thấy yên...
Nửa đêm, cán bộ về làng, họ thao thức chờ đợi - đêm đêm thao thức chờ cán bộ về. Anh đến, trong tối, nói chuyện trong tối, nhưng nghe giọng nói của họ, qua giọng nói của họ, thấy rõ nét đau khổ, lòng căm hờn với giặc và nỗi vui mừng khi thấy cán bộ cách mạng về vùng. Đêm, nhưng họ vẫn trèo dừa, hái dừa cho anh uống nước; Đêm, nhưng cả gia đình thức dậy nói chuyện và nghe anh kể chuyện về miền bắc, về cuộc sống xã hội chủ nghĩa tương lai của miền nam. Một giờ nghe say sưa, chuyện gì họ cũng muốn biết, chuyện gì nghe rồi họ cũng muốn nghe lại, chuyện hợp tác xã nông nghiệp, chuyện các tổ sản xuất - ở những nơi do ta kiểm soát thì mỗi lần cơm xong sau buổi đi làm đồng là họ kéo đến nghe nói chuyện suốt trưa suốt tối, chuyện đánh giặc, chuyện cấy lúa, chuyện nông trường, chuyện nhà máy, chuyện thủ đô, chuyện Bác Hồ,...
Anh vốn là người ít nói, nhưng, bây giờ đi công tác độc lập về nông thôn, phải làm công tác tuyên truyền, - cán bộ phải làm đủ chuyện, cán bộ đazinăng là vậy - phải nói! Bây giờ có đêm anh nói ba, bốn giờ liền, nói đến khản cả cổ! Nhưng, rất vui. Lòng cảm thấy rất vui sau mỗi lần nói chuyện, mỗi lần đem lại niềm vui, tăng thêm lòng tin cho nhân dân. Tình dân thật vô cùng thắm thiết, lòng họ dạt dào thương yêu cán bộ, chiến sĩ cách mạng. Có những nơi nghèo vô cùng - như ở Bình Sơn, nơi anh công tác ở đây, nhân dân chỉ quanh năm ăn sắn, khoai, ngô - gạo rất ít, rất hiếm. Có nhà thấy anh về, họ thương, mới đi giã một nắm thóc, nấu nửa lon gạo cơm độn khoai cho ăn. Tất nhiên là anh nhất định ăn uống như nhân dân. Lạ, chính mình sống được, ăn được, chịu khổ được như nhân dân, cho nên họ càng thương yêu, quý mến...
... Chưa bao giờ anh được sống trong tình cảm mặn nồng của nhân dân như vậy. Nhìn thấy cuộc sống đau khổ, quằn quại của nhân dân dưới ách kìm kẹp của giặc, nhìn thấy tình cảm của nhân dân đối với cách mạng thông qua tình cảm của họ đối với mình, lòng tràn ngập tình thương dân dào dạt. Trước khi vào, anh xác định cho mình nghĩa vụ phục vụ cho cách mạng giải phóng quê hương, chiến đấu để giải phóng bà con, làng xóm, quê nhà mình, trả ơn - đền đáp công ơn của Đảng đã giáo dục mình, và ưu đãi đối với gia đình mình. Bây giờ lại càng xác định vững chắc hơn bao giờ hết, càng thấy mình không thể từ nan, thoái thác khó khăn gian khổ nào...
Trích thêm một bức thư khác.
Quảng Ngãi, 22 tháng sáu 1967,
Em yêu thương,
“Anh đã nhận được bức thư đầu của em gửi vào. Thư đi mất bảy tháng tròn. Như vậy là sau hơn một năm sống và làm việc ở quê hương miền nam này, anh mới nhận được thư của quê hương miền bắc. Trước kia, mấy tiếng “quê hương miền bắc” gợi cho anh ý thơ nhiều hơn là tình yêu thương sâu sắc... Bây giờ thì khác... Đối với anh, miền bắc là quê hương của tình yêu, của lòng tin, của nghị lực dồi dào và niềm lạc quan vô hạn... và mỗi lần nghĩ về miền bắc, anh đều thấy lòng dạt dào nhớ thương tha thiết như xưa kia anh nhớ ngôi nhà, cái sân, mảnh vườn, con đường làng của tuổi thơ - ngày anh càng thấy đậm nét chính miền bắc là cội rễ, là nơi “chôn rau cắt rốn” của những tình cảm nồng nàn đối với cuộc sống, đối với tương lai...”.
“... Bức thư của em - cũng như những bức thư từ miền bắc gửi vào đều đem lại cho anh rất nhiều niềm vui, và càng làm cho anh nhớ thương miền bắc và tin ở em, tin ở bản thân mình và tin ở chiến thắng... Anh có thể kể cho em nghe không bao giờ hết những chuyện về miền bắc trong lòng người dân miền nam... Tất cả nhân dân miền nam đều hướng về miền bắc xã hội chủ nghĩa với lòng khát khao vô hạn tự do, độc lập, dân chủ thật sự...”.
Đêm 6/8/1967, để lấy tư liệu thực tế sống động cho việc viết báo, cùng với du kích và bộ đội địa phương, bố tôi tham gia trận tiến công đồn Cổ Lũy nằm án ngữ bên bờ sông Trà Khúc ở huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Trong trận đánh này, ông cùng với ba chiến sĩ đặc công đã anh dũng hy sinh...
Với bầu máu nóng không ngừng chảy trong huyết quản của một đảng viên trẻ cùng khát khao cháy bỏng được trở về tham gia chiến đấu giải phóng quê hương, thống nhất đất nước, Nguyễn Ngọc Tứ đã không đắn đo khi từ bỏ cơ hội mà cơ quan dành cho lúc đó là được cử đi học nghiệp vụ tại Cộng hòa Dân chủ Đức, xung phong vào công tác tại chiến trường miền nam đầy khói lửa.
Nguồn Nhân Dân : https://nhandan.vn/bau-mau-nong-post947635.html