Bệ đỡ giúp Việt Nam 'vươn mình' trong kỷ nguyên mới

Bệ đỡ giúp Việt Nam 'vươn mình' trong kỷ nguyên mới
3 giờ trướcBài gốc
PGS.TS Dương Minh Hải. Ảnh: Ngọc Khương - phóng viên TTXVN tại Singapore
Lần đầu tiên, khoa học - công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo được xác định là hai đột phá chiến lược nhằm hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và quốc gia phát triển vào năm 2045. Mặc dù, những bước triển khai ban đầu đã ghi nhận chuyển biến tích cực, nhưng con đường phía trước vẫn đòi hỏi nỗ lực và quyết tâm chính trị lớn. Nhằm phân tích sâu hơn vấn đề này, phóng viên TTXVN tại Singapore đã trao đổi với Phó Giáo sư, Tiến sĩ (PGS.TS) Dương Minh Hải, Đại học Quốc gia Singapore.
Phóng viên: Ông đánh giá như thế nào về bức tranh đổi mới sáng tạo và phát triển khoa học – công nghệ (KHCN) của Việt Nam trong năm 2025, đặc biệt sau khi Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách mạnh mẽ trong lĩnh vực này?
PGS. TS Dương Minh Hải: Có thể nói, Việt Nam đang đứng trước một thời điểm bản lề. Nếu như trước đây, KHCN được xác định là “quốc sách hàng đầu” chủ yếu trên văn bản, năm 2025 đánh dấu sự chuyển dịch rõ rệt sang hành động cụ thể, với sự dẫn dắt trực tiếp của ý chí chính trị ở cấp cao nhất là Bộ Chính trị.
Nghị quyết số 57-NQ/TW không chỉ mang tính định hướng. Với những người trực tiếp làm khoa học, nghị quyết này giống như một “chiếc chìa khóa” để tháo gỡ các điểm nghẽn cố hữu trong hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) thời gian qua.
Chẳng hạn, trước đây, áp lực “nghiên cứu là phải thành công” khiến nhiều nhà khoa học e ngại theo đuổi các đề tài đột phá, nhưng rủi ro cao. Nghị quyết 57 đã bắt đầu thay đổi tư duy này, khi thừa nhận rủi ro là một phần tất yếu của đổi mới sáng tạo. Lần đầu tiên, các mô hình thử nghiệm chính sách theo cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) được nhen nhóm, cho phép thí điểm có kiểm soát các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ chuỗi khối (blockchain), công nghệ tài chính (fintech). Điều này hoàn toàn khác với quy trình hành chính pháp lý cứng nhắc trước đây.
Một điểm khác biệt rất rõ nét của năm 2025 so với các giai đoạn trước là sự chuyển dịch từ đầu tư dàn trải sang đầu tư tập trung, có trọng tâm, trọng điểm. Một số lĩnh vực được ưu tiên hàng đầu như chất bán dẫn, AI, chuyển đổi số, công nghệ xanh. Chưa bao giờ một công nghệ mới lại được triển khai rộng khắp trong đời sống trong thời gian ngắn như hiện nay như camera giao thông AI – một ví dụ cho thấy những thay đổi đang diễn ra ở các nút giao thông trên khắp đô thị Việt Nam.
Với cá nhân tôi, vừa làm nghiên cứu vừa phát triển công nghệ, tôi đặt nhiều kỳ vọng vào những bước tiến vượt bậc của KHCN Việt Nam trong những năm tới.
Phóng viên: Theo ông, đâu là những thách thức lớn mà Việt Nam cần vượt qua để không chỉ thúc đẩy đầu tư hiệu quả, mà còn tạo ra đột phá thực sự trong KHCN và đổi mới sáng tạo?
PGS. TS Dương Minh Hải: Dù có nhiều cơ sở để lạc quan, nhưng chúng ta vẫn cần nhìn nhận thẳng thắn những thách thức hiện hữu. Thách thức đầu tiên là độ trễ của chính sách. Từ nghị quyết của Bộ Chính trị đến luật, nghị định và thông tư hướng dẫn triển khai vẫn tồn tại một khoảng cách đáng kể. Nghị quyết 57 rất quyết liệt, nhưng để xây dựng và ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn chi tiết có thể mất từ 6 tháng đến một năm. Trong giai đoạn chuyển tiếp đó, không ít xung đột giữa khung pháp lý hiện hành và chủ trương mới sẽ phát sinh. Điều này khiến người thực thi dễ rơi vào tâm lý e dè, chọn “làm chậm” hoặc thậm chí “không làm” để tránh rủi ro, tạo nên hiện tượng “trên nóng – dưới lạnh”, chủ trương đúng nhưng thực thi rối.
PGS.TS Dương Minh Hải trong một buổi giới thiệu về vật liệu tại phòng thí nghiệm. Ảnh: Ngọc Khương - phóng viên TTXVN tại Singapore
Thách thức thứ hai là bài toán nhân lực chất lượng cao. Tại Việt Nam, số lượng giáo sư, tiến sĩ tăng lên hàng năm, nhưng chúng ta vẫn thiếu trầm trọng những “tổng công trình sư” – những người có năng lực định hướng chiến lược nghiên cứu dài hạn, dẫn dắt các nhóm nghiên cứu đa ngành và kết nối hợp tác quốc tế. Bên cạnh đó, hiện tượng “chảy máu chất xám” vẫn dai dẳng, xuất phát từ sự chênh lệch về cơ chế làm việc và thu nhập giữa khu vực nghiên cứu công lập với khối doanh nghiệp tư nhân và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Thách thức thứ ba là mối liên kết “Viện – Trường – Doanh nghiệp” còn rời rạc, thiếu chiều sâu. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở sự lệch pha về mục tiêu: nhà khoa học theo đuổi chuẩn mực học thuật, trong khi doanh nghiệp cần hiệu quả thương mại nhanh chóng. Thêm vào đó, các vướng mắc pháp lý trong định giá tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước khiến việc chuyển giao công nghệ gặp nhiều trở ngại. Hệ quả là doanh nghiệp vẫn chuộng nhập khẩu công nghệ trọn gói, trong khi nhiều kết quả nghiên cứu trong nước có giá trị lại bị “đóng ngăn kéo”.
Phóng viên: Theo ông, đâu là thế mạnh của Việt Nam trong phát triển KHCN và đổi mới sáng tạo? Những ngành công nghệ chiến lược nào cần được ưu tiên đầu tư?
PGS.TS Dương Minh Hải: Triển khai Nghị quyết 57, Việt Nam đang đứng trước một “cơ hội vàng”, nhờ hội tụ cả lợi thế nội tại lẫn ngoại lực.
Thế mạnh cốt lõi là cơ cấu dân số vàng, với nguồn nhân lực trẻ có tư duy STEM (Khoa học -Công nghệ - Kỹ thuật – Toán học) tốt – nền tảng quan trọng cho đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, vị thế địa chính trị ổn định cùng trữ lượng đất hiếm lớn thứ hai thế giới giúp Việt Nam trở thành điểm đến tin cậy trong chiến lược đa dạng hóa chuỗi cung ứng của các cường quốc công nghệ.
Về định hướng chiến lược, Việt Nam cần tập trung nguồn lực vào ba mũi nhọn. Thứ nhất là công nghiệp bán dẫn, trước mắt ưu tiên khâu thiết kế và đóng gói, kiểm thử (ATP), từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Thứ hai là AI và chuyển đổi số, tập trung vào các ứng dụng giải quyết bài toán cụ thể trong giao thông, nông nghiệp, y tế và quản trị quốc gia. Thứ ba, có ý nghĩa đặc biệt đối với Việt Nam, là công nghệ sinh học và vật liệu mới – lĩnh vực lưỡng dụng, vừa bảo đảm an ninh lương thực, an ninh y tế, vừa phục vụ quốc phòng – an ninh. Tập trung đúng và đủ vào các trụ cột này sẽ là chìa khóa giúp Việt Nam thoát bẫy thu nhập trung bình thông qua KHCN.
Phóng viên: Theo ông, Singapore có những kinh nghiệm gì đáng tham khảo trong phát triển KHCN? Việt Nam nên thúc đẩy hợp tác song phương trong những lĩnh vực nào để tạo tăng trưởng bền vững?
PGS. TS Dương Minh Hải: Singapore là hình mẫu tiêu biểu về quản trị quốc gia trong thời đại số, với thế mạnh nổi bật ở năng lực kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Kinh nghiệm quan trọng nhất là tư duy “Khung pháp lý thử nghiệm”, cho phép Chính phủ chủ động nới lỏng quy định để nuôi dưỡng công nghệ mới trước khi hoàn thiện khung pháp lý. Đồng thời, mô hình liên kết chặt chẽ “Nhà nước – Viện, Trường – Doanh nghiệp” của Singapore giúp thương mại hóa nghiên cứu rất hiệu quả, thu hút mạnh dòng vốn đầu tư mạo hiểm toàn cầu.
Tôi cho rằng, để có thể tận dụng tốt nhất những kinh nghiệm và thế mạnh của Singapore, Việt Nam nên xem xét thúc đẩy hợp tác chiến lược song phương ở hai trụ cột chính là kinh tế xanh và kinh tế số. Cụ thể, năng lượng tái tạo và thị trường tín chỉ carbon là ưu tiên hàng đầu. Singapore đang cần nguồn năng lượng sạch để thực hiện mục tiêu không phát thải, trong khi Việt Nam có tiềm năng lớn về điện gió ngoài khơi. Hợp tác về lưới điện xuyên biên giới và tín chỉ carbon sẽ giúp Việt Nam thu hút dòng vốn xanh quy mô lớn.
Bên cạnh đó, hợp tác trong lĩnh vực trung tâm dữ liệu và bán dẫn sẽ giúp Việt Nam tận dụng vai trò “trung tâm công nghệ” của Singapore để nâng cao chất lượng nhân lực và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Đây là bước đi “đôi bên cùng có lợi”. Về dài hạn, Việt Nam cần chuyển từ hợp tác thương mại sang mô hình “đồng kiến tạo tri thức”, thông qua các phòng thí nghiệm liên doanh đặt tại Việt Nam nhưng vận hành theo chuẩn R&D của Singapore. Quan trọng hơn cả là học được quy trình từ nghiên cứu đến thương mại hóa, cũng như xây dựng đội ngũ lãnh đạo khoa học kế cận đạt chuẩn quốc tế.
Phóng viên: Theo ông, Việt Nam cần làm gì để trở thành một mắt xích quan trọng trên bản đồ công nghệ toàn cầu?
PGS.TS Dương Minh Hải: Để hiện thực hóa khát vọng “hóa rồng” về công nghệ, Việt Nam cần thực hiện một cuộc “cách mạng kép”: đột phá về thể chế nội tại và tái định vị tư duy ngoại giao công nghệ.
Về nội lực, điều cốt lõi là chuyển từ tư duy “quản lý” sang điều phối để hướng tới mục đích “kiến tạo”. Việt Nam cần xây dựng các “đặc khu đổi mới sáng tạo” thực thụ, với cơ chế sandbox vượt trội, chấp nhận rủi ro nghiên cứu và tối giản hóa thủ tục hành chính, để trở thành điểm đến hấp dẫn nhất khu vực cho nhân tài công nghệ và dòng vốn đầu tư mạo hiểm.
Về vị thế quốc tế, Việt Nam cần chủ động chuyển vai trò từ “công xưởng gia công” sang “trung tâm thiết kế và giải pháp”. Tham gia chuỗi cung ứng bán dẫn không chỉ để tạo việc làm, mà còn để đóng góp vào an ninh công nghệ toàn cầu. Quan trọng hơn, Việt Nam cần định vị mình là một “quốc gia đổi mới sáng tạo có trách nhiệm”, tập trung phát triển công nghệ xanh, năng lượng tái tạo và công nghệ sinh học, qua đó đóng góp thiết thực cho nỗ lực chung của thế giới trong ứng phó biến đổi khí hậu và bảo đảm an ninh lương thực. Khi đó, sự phát triển của Việt Nam sẽ gắn liền với sự ổn định và thịnh vượng của cả khu vực.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn PGS.TS Dương Minh Hải về những chia sẻ của ông!
Đỗ Vân/vnanet.vn
Nguồn Bnews : https://bnews.vn/be-do-giup-viet-nam-vuon-minh-trong-ky-nguyen-moi/403455.html