Biên cương xanh và người lính quân hàm xanh trong văn học Sơn La

Biên cương xanh và người lính quân hàm xanh trong văn học Sơn La
6 giờ trướcBài gốc
Tác phẩm “Để có mùa xuân bình yên” của họa sĩ Lê Chương.
Trong dòng chảy văn học Sơn La, hình ảnh người lính biên phòng không chỉ là đề tài mà là một nguồn cảm hứng lớn, một “mạch ngầm” ngân dài qua thơ, truyện ký, tản văn. Từ những trang viết đăng trên Tạp chí Suối Reo của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Sơn La đến những tập thơ còn thơm mùi mực mới, đâu đâu cũng bắt gặp bóng dáng người lính quân hàm xanh - những con người “dàn hàng gánh đất nước trên vai” giữa thời bình.
Văn học Sơn La đã gọi tên biên giới bằng những địa danh thân thuộc: Mường Lèo, Mường Lạn, Chiềng Khương, Lóng Sập, Nậm Lạnh… Mỗi cái tên như một nhịp gõ vào trái tim người đọc. Biên cương không còn là khái niệm trừu tượng trên bản đồ mà hiện lên bằng cột mốc rêu phong, bằng đường tuần tra gập ghềnh, bằng sương mù đổ xuống thung lũng, bằng tiếng gà khua rỗng màn sương và mùi xôi nếp mới ngát bay từ bếp lửa nhà sàn. Ta bắt gặp trong thơ Sơn La một biên giới vừa hùng vĩ vừa dịu dàng. Mùa xuân đến sớm nơi non cao, hoa đào chúm chím trong sương, hoa lê trắng tinh khôi dưới trời xanh lồng lộng. Thu về, tiếng rừng xào xạc như bước chân người lính giữa đường tuần tra. Đông xuống, sương phủ kín chốt tiền tiêu, gió lùa qua vách bạt mỏng mà hơi ấm vẫn bừng lên từ ánh mắt đồng đội. Nhưng biên cương không chỉ có hoa và mây. Ẩn sau vẻ đẹp ấy là những hiểm nguy thầm lặng. Văn học Sơn La không né tránh hiện thực. Những cung đường “oằn mình lên biên giới”, những đêm tối căng mắt nhìn trong sương, những cuộc truy bắt tội phạm ma túy giữa rừng sâu. Có máu đã thấm vào đất mẹ giữa thời bình. Có người lính đã nằm lại để mùa xuân mãi xanh trên bản làng. Chính trong sự đối lập giữa cái đẹp và gian nan ấy, biên cương hiện lên trọn vẹn - thiêng liêng, sống động và đầy thử thách.
Nếu biên cương là không gian thì người lính là linh hồn của không gian ấy. Văn học Sơn La đã khắc họa người chiến sĩ biên phòng không phải như một tượng đài khô cứng mà như một con người trọn vẹn, có lý tưởng, có nỗi nhớ, có khát vọng và cả những phút “dối lòng”. Màu xanh trên vai áo họ không chỉ là sắc phục. Đó là màu xanh của sông núi, của hy vọng, của niềm tin. Họ nguyện “đồn là nhà, biên giới là quê hương”, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt. Ở nơi địa đầu Tổ quốc, họ dựng lều chốt dịch giữa đại ngàn, “cơm vắt, ngủ vùi, phong sương lều bạt” những ngày đại dịch. Họ xung phong dập lửa rừng, mang thuốc đến từng nhà, cõng chữ lên non, làm thầy giáo quân hàm xanh thổi hồn cho “cánh rừng chữ nghĩa bật mầm”. Có lẽ hình ảnh đẹp nhất trong văn học Sơn La chính là hình ảnh người lính hòa vào đời sống bản mường. Bên sắc áo xanh là áo chàm, áo cóm; bên tiếng quân hành là điệu xòe, tiếng khèn, tiếng cười vui ném pao ngày hội. Họ không chỉ giữ đất mà giữ lòng người. Họ trở thành “cột mốc lòng dân nơi biên ải”. Và cũng như bao người đàn ông khác, họ có mẹ già trông ngóng, có vợ trẻ đợi chờ, có con thơ mong ngày bố về. Những vần thơ Sơn La đã chạm tới phần mềm yếu ấy. Nỗi nhớ tím hoàng hôn, ước mong nắm tay con dạo phố, khao khát tình yêu giữa đại ngàn. Nhưng khi Tổ quốc cần, họ biết “tạm gác tình riêng”. Không phải vì tình yêu nhỏ bé hơn mà vì tình yêu ấy đã hòa vào tình yêu đất nước.
Dọc tuyến biên giới Việt - Lào, hình ảnh người lính hai nước sát cánh bên nhau cũng trở thành một mảng màu đậm trong văn học Sơn La. “Lửa sáng bên này, nghe gà gáy bên kia” - một câu thơ giản dị mà gợi bao thân tình. Biên giới không phải là vạch ngăn cách mà là nơi gặp gỡ của hai dân tộc. Những trang viết về biên cương Sơn La vì thế không chỉ nói về bảo vệ chủ quyền mà còn nói về xây dựng hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển. Trong nhịp sống ấy, người lính là nhịp cầu thầm lặng.
Điều làm nên giá trị của những tác phẩm viết về người lính biên phòng Sơn La chính là sự thấu cảm. Nhiều tác giả từng đi qua chiến tranh, từng khoác áo lính, từng sống giữa biên giới. Họ không viết bằng trí tưởng tượng xa lạ mà bằng ký ức, bằng trải nghiệm, bằng những đêm ngủ lại chốt tiền tiêu, những lần cùng hành quân giữa mây mù. Vì thế, trong thơ họ, con đường biết “oằn mình”, sương biết “nằm lì”, chốt tiền tiêu “tít tắp tận đỉnh trời”. Hình ảnh giàu chất tạo hình ấy khiến biên cương hiện ra vừa thực vừa lãng mạn. Có những câu thơ như treo một cành hoa trên đầu súng, để người đọc thấy rằng giữa gian nan vẫn nở mùa xuân.
Biên cương xanh không chỉ là màu của rừng núi Sơn La mà là màu của niềm tin. Người lính quân hàm xanh không chỉ giữ từng tấc đất mà giữ sự bình yên để bản mường được mùa, để trẻ thơ được đến lớp, để mùa xuân năm nào cũng về trên những dãy núi phía Tây Bắc của Tổ quốc. Văn học Sơn La đã, đang và sẽ còn viết tiếp bản trường ca ấy. Bản trường ca về những “ngực đá ngang trời dựng mốc” về những cuộc đời lặng lẽ mà cao cả. Và mỗi lần đọc lại, ta như nghe tiếng bước chân tuần tra vọng qua sương núi, để nghe nhịp tim người lính hòa vào nhịp đập Tổ quốc, để hiểu rằng nơi biên ải xa xôi kia có những con người đang sống trọn vẹn một đời cho hai chữ chủ quyền và cho mùa xuân bình yên của đất nước.
Hoàng Kim Ngọc (CTV)
Nguồn Sơn La : https://baosonla.org.vn/van-hoa-xa-hoi/bien-cuong-xanh-va-nguoi-linh-quan-ham-xanh-trong-van-hoc-son-la-2Rb6RJdDg.html