Điểm sâu sắc của phong trào “Bình dân học vụ số” là đặt con người vào trung tâm của công cuộc CĐS. Công nghệ dù hiện đại đến đâu cũng chỉ là công cụ, dữ liệu dù lớn đến đâu cũng không tự tạo ra phát triển nếu người dân không biết tiếp cận, sử dụng và làm chủ.
CĐS không thể thành công nếu người dân còn lúng túng khi thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến, kinh tế số khó lan tỏa nếu nông dân, tiểu thương, hợp tác xã, doanh nghiệp chưa biết ứng dụng thương mại điện tử, thanh toán không tiền mặt, truy xuất nguồn gốc và quảng bá sản phẩm trên môi trường số.
Trong kỷ nguyên số, nguy cơ “mù số” cũng có thể trở thành một dạng tụt hậu mới, âm thầm nhưng nghiêm trọng. Người dân không biết sử dụng dịch vụ công trực tuyến, không biết bảo vệ dữ liệu cá nhân, không nhận diện được lừa đảo trên mạng, không biết khai thác nền tảng số trong học tập, sản xuất, kinh doanh sẽ rất dễ bị đứng ngoài dòng chảy phát triển.
Vì vậy, yêu cầu đưa “Bình dân học vụ số” trở thành phong trào cách mạng, toàn dân, toàn diện, bao trùm, sâu rộng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
“Cách mạng” ở đây không phải là khẩu hiệu lớn, mà là sự thay đổi thực chất trong tư duy, thói quen và năng lực hành động của từng cán bộ, từng người dân, từng cộng đồng. CĐS không thể là việc riêng của cơ quan chuyên môn hay doanh nghiệp công nghệ, mà phải trở thành năng lực phổ thông của toàn xã hội.
Năm 2026 là năm có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa phong trào đi vào chiều sâu, thực chất. Theo kế hoạch của Trung ương đặt ra rất cụ thể những chỉ tiêu cho thấy đây không phải là phong trào vận động chung chung, mà là nhiệm vụ chính trị - xã hội có mục tiêu, có lộ trình và có thước đo cụ thể.
Đây chính là cách để CĐS toàn dân, khi một người nông dân biết dùng điện thoại thông minh để cập nhật thời tiết, giá cả thị trường, khi một tiểu thương biết bán hàng trên nền tảng số, khi một người cao tuổi biết sử dụng VNeID, thanh toán điện tử, tiếp cận dịch vụ y tế, học sinh biết học tập an toàn trên môi trường mạng, cán bộ biết giải quyết công việc bằng tư duy số, thì CĐS không còn là khái niệm xa vời, mà trở thành hơi thở của đời sống.
Tuy nhiên, để phong trào thật sự trở thành cách mạng, điều cần tránh nhất là bệnh hình thức, không thể chỉ dừng lại ở khẩu hiệu, vài lớp tập huấn rồi xem như hoàn thành nhiệm vụ.
Muốn vậy, cán bộ, đảng viên phải đi trước, không thể vận động Nhân dân học kỹ năng số trong khi một bộ phận cán bộ còn ngại thay đổi, ngại dùng nền tảng số, ngại xử lý công việc trên môi trường điện tử.
Mỗi cơ quan, đơn vị cần xem kỹ năng số là tiêu chí đánh giá năng lực thực thi công vụ.
Mỗi xã, phường, khóm, ấp cần có những “lớp học số” gần dân, dễ hiểu, cầm tay chỉ việc và tổ công nghệ số cộng đồng phải trở thành lực lượng nòng cốt đưa tri thức số đến từng gia đình.
Bình dân học vụ số cũng phải gắn chặt với an toàn số và văn hóa số. Người dân không chỉ học cách dùng điện thoại thông minh, quét mã QR, đăng nhập VNeID hay nộp hồ sơ trực tuyến, mà còn phải biết nhận diện tin giả, bảo vệ thông tin cá nhân, ứng xử văn minh trên mạng và không trở thành nạn nhân của lừa đảo công nghệ cao.
Một công dân số đúng nghĩa không chỉ biết sử dụng công nghệ, mà còn biết sử dụng công nghệ đúng cách, an toàn, nhân văn và có trách nhiệm.
Bình dân học vụ số lấy Nhân dân là gốc, là cuộc cách mạng khai dân trí trong kỷ nguyên mới. Khi mỗi người dân biết làm chủ công nghệ, mỗi cán bộ biết phục vụ Nhân dân bằng tư duy số, mỗi cộng đồng biết cùng nhau học tập và thích ứng, thì CĐS mới thật sự trở thành phong trào cách mạng của toàn dân, vì Nhân dân và do Nhân dân làm chủ.
Một phong trào chỉ có sức sống khi nó bắt nguồn từ Nhân dân, phục vụ Nhân dân và được Nhân dân tham gia.
“Bình dân học vụ số” vì thế không chỉ là chuyện học công nghệ, mà là con đường nâng cao dân trí, bồi đắp năng lực công dân và tạo dựng sức mạnh xã hội mới trong kỷ nguyên số.
LÊ MINH DŨNG