Gỡ 'nút thắt' để du lịch Việt Nam thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

Gỡ 'nút thắt' để du lịch Việt Nam thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
2 giờ trướcBài gốc
Du lịch đang thể hiện vai trò là một trụ cột có khả năng dẫn dắt các hệ sinh thái kinh tế - văn hóa - sáng tạo
Từ một ngành dịch vụ tăng trưởng nhanh, du lịch đang thể hiện vai trò là một trụ cột có khả năng dẫn dắt các hệ sinh thái kinh tế - văn hóa - sáng tạo.
Nhưng để đạt được tham vọng ấy, điều quan trọng là việc nhìn thẳng vào thực trạng và tháo gỡ những điểm nghẽn đã tồn tại nhiều năm.
Tăng trưởng ấn tượng, nhưng chưa tương xứng tiềm năng
Nhìn lại giai đoạn từ khi triển khai Nghị quyết 08-NQ/TW, du lịch Việt Nam đã ghi nhận những bước tiến rõ rệt.
Trước đại dịch, tốc độ tăng trưởng khách quốc tế đạt trung bình trên 18%/năm; tổng thu du lịch năm 2019 đạt 755 nghìn tỉ đồng, đóng góp trực tiếp 9,2% GDP.
Sau cú sốc Covid-19, năm 2025, ngành đã phục hồi nhanh, với gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế năm 2025, vượt mức trước dịch, và tổng thu vượt mốc 1 triệu tỉ đồng.
Những con số này cho thấy năng lực bật dậy mạnh mẽ của ngành, đồng thời phản ánh sức hấp dẫn ngày càng rõ nét của điểm đến Việt Nam trên bản đồ du lịch khu vực.
Tuy nhiên, nếu đặt trong tương quan với tiềm năng tài nguyên, vị trí địa lý và chiều sâu văn hóa, bức tranh lại lộ rõ những khoảng trống đáng suy ngẫm.
Tăng trưởng nhanh, nhưng chưa bền vững. Lượng khách tăng, nhưng giá trị gia tăng chưa tương xứng. Thị trường mở rộng, nhưng chưa tạo được dấu ấn thương hiệu đủ mạnh.
Chính sách phát triển du lịch Việt Nam hiện nay còn phân tán, thiếu tính liên kết vùng, dẫn đến tình trạng mạnh ai nấy làm, khó hình thành những chuỗi giá trị quy mô lớn
Ba điểm nghẽn lớn kìm hãm sự bứt phá
Những hạn chế của du lịch Việt Nam không còn là vấn đề mới, nhưng trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt, chúng trở thành những “nút thắt” cần tháo gỡ dứt điểm.
Thứ nhất, thể chế và cơ chế điều phối còn thiếu tính đột phá. Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, liên quan đến nhiều lĩnh vực như giao thông, xây dựng, văn hóa, thương mại… nhưng cơ chế phối hợp liên ngành vẫn chưa thực sự hiệu quả.
Chính sách phát triển còn phân tán, thiếu tính liên kết vùng, dẫn đến tình trạng mạnh ai nấy làm, khó hình thành những chuỗi giá trị quy mô lớn.
Đây chính là điểm nghẽn có tác động sâu rộng, làm giảm hiệu quả của nhiều nguồn lực đầu tư.
Thứ hai, hạ tầng du lịch chưa theo kịp nhu cầu phát triển.
Sự gia tăng nhanh của lượng khách đang đặt áp lực lớn lên hệ thống hạ tầng, từ hàng không, giao thông kết nối đến hạ tầng dịch vụ tại điểm đến. Không ít địa phương rơi vào tình trạng quá tải theo mùa, trong khi những khu vực tiềm năng lại thiếu kết nối.
Hạ tầng không chỉ là đường sá hay sân bay, mà còn là hạ tầng số, hạ tầng trải nghiệm, những yếu tố quyết định chất lượng hành trình của du khách trong kỷ nguyên mới.
Sự gia tăng nhanh của lượng khách đang đặt áp lực lớn lên hệ thống hạ tầng, từ hàng không, giao thông kết nối đến hạ tầng dịch vụ tại điểm đến
Thứ ba, nguồn nhân lực và năng lực doanh nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu.
Du lịch Việt Nam vẫn thiếu đội ngũ lao động chất lượng cao, đặc biệt ở các vị trí quản trị, thiết kế sản phẩm và vận hành theo chuẩn quốc tế. Nhiều doanh nghiệp còn nhỏ lẻ, năng lực cạnh tranh hạn chế, khó tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Điều này lý giải vì sao nhiều sản phẩm du lịch vẫn dừng ở mức khai thác tài nguyên, chưa chuyển hóa thành trải nghiệm có chiều sâu và giá trị cao.
Để hiện thực hóa mục tiêu, Đề án đề xuất 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, gồm: Nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, tăng cường trách nhiệm về phát triển du lịch; Đổi mới thể chế, chính sách toàn diện để phát triển du lịch; Đột phá về đầu tư, huy động nguồn lực và phát triển hạ tầng du lịch đồng bộ, hiện đại; Cơ cấu lại thị trường, phát triển sản phẩm du lịch chất lượng cao, nâng cao hiệu quả kinh tế du lịch;
Đồng thời quản lý chất lượng điểm đến, phát triển du lịch xanh, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu; Ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và phát triển hệ sinh thái du lịch thông minh; Đột phá công tác xúc tiến, quảng bá nâng tầm thương hiệu du lịch Việt Nam; Phát triển doanh nghiệp du lịch, nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao.
Đề án xây dựng theo một trục xuyên suốt, từ quan điểm, thể chế hóa đến đầu tư, hạ tầng, phát triển sản phẩm
Những nhóm giải pháp mang tính đột phá
Điểm đáng chú ý trong Đề án lần này là cách tiếp cận mới, không nhìn du lịch như một ngành kinh tế đơn thuần, mà đặt nó vào trung tâm của một hệ sinh thái rộng lớn, kết nối văn hóa, công nghiệp sáng tạo, công nghệ, y tế, thương mại và kinh tế số.
Đây là bước chuyển quan trọng về tư duy. Khi du lịch gắn với di sản, với công nghiệp văn hóa, với nền tảng số, giá trị tạo ra không chỉ nằm ở doanh thu trực tiếp, mà còn ở sức lan tỏa của “quyền lực mềm” quốc gia.
Để đạt mục tiêu đến năm 2030 đón 45 - 50 triệu lượt khách quốc tế và đóng góp khoảng 14% GDP, Đề án đề xuất một loạt nhóm giải pháp. Nhưng điều quan trọng là cách triển khai phải đủ mạnh để tạo chuyển biến thực chất.
Để có bước phát triển thực chất, yêu cầu đầu tiên là hoàn thiện thể chế theo hướng tạo dựng một hành lang đủ rộng và linh hoạt cho thị trường vận hành.
Hình ảnh điểm đến cần được định hình lại bằng một chiến lược xúc tiến chuyên nghiệp, có thông điệp rõ ràng
Hệ thống chính sách cần được thiết kế đồng bộ, từ thị thực, đầu tư đến quản lý điểm đến, trong đó chính sách visa phải mang tầm chiến lược, gắn với từng thị trường trọng điểm và từng phân khúc khách, thay vì những điều chỉnh mang tính ngắn hạn.
Cùng với đó, một cơ chế điều phối liên vùng đủ mạnh là điều kiện tiên quyết để hình thành các không gian du lịch có tính kết nối, thay thế cho tình trạng phát triển rời rạc, thiếu liên kết kéo dài trong nhiều năm.
Song hành với cải cách thể chế, hạ tầng cần được đặt vào vị trí đi trước một bước.
Không chỉ là câu chuyện mở rộng năng lực hàng không hay hoàn thiện mạng lưới giao thông, mà còn là việc thiết lập các hành lang du lịch liên vùng có tính chiến lược, giúp dòng khách di chuyển thuận lợi và kéo dài hành trình.
Trong bối cảnh nguồn lực công có hạn, việc thu hút đầu tư tư nhân và hình thành các tổ hợp du lịch - nghỉ dưỡng - giải trí quy mô lớn sẽ đóng vai trò dẫn dắt, tạo ra những cực tăng trưởng mới cho toàn ngành.
Du lịch Việt Nam cần một cuộc tái cấu trúc mang tính chiều sâu, chuyển hóa văn hóa, di sản, làng nghề và nghệ thuật truyền thống thành những trải nghiệm có câu chuyện, có cảm xúc và có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Ở cấp độ sản phẩm, du lịch Việt Nam cần một cuộc tái cấu trúc mang tính chiều sâu. Tài nguyên không còn là lợi thế đủ lớn nếu chỉ dừng ở khai thác đơn thuần.
Giá trị nằm ở khả năng sáng tạo, ở cách chuyển hóa văn hóa, di sản, làng nghề và nghệ thuật truyền thống thành những trải nghiệm có câu chuyện, có cảm xúc và có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Khi sản phẩm có bản sắc rõ ràng, điểm đến mới có thể định vị được vị thế riêng.
Quá trình này không thể tách rời chuyển đổi số. Công nghệ cần được nhìn nhận như nền tảng của quản trị hiện đại, nơi dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo giúp hiểu khách hàng sâu hơn, cá thể hóa trải nghiệm và tối ưu vận hành.
Khi đó, du lịch không còn vận hành theo mô hình tăng trưởng dựa vào số lượng, mà chuyển sang dựa trên tri thức và hiệu quả.
Cùng với nội lực, hình ảnh điểm đến cần được định hình lại bằng một chiến lược xúc tiến chuyên nghiệp, có thông điệp rõ ràng và sự kiên định trong dài hạn.
Một thương hiệu du lịch quốc gia chỉ thực sự có sức lan tỏa khi hội tụ được bản sắc riêng, thay vì dàn trải và thiếu điểm nhấn như hiện nay.
Sau cùng, tất cả những chuyển động này chỉ có thể trở thành hiện thực nếu được nâng đỡ bởi nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đầu tư cho con người không chỉ dừng ở đào tạo, mà cần gắn chặt với nhu cầu doanh nghiệp, chuẩn mực quốc tế và khả năng thu hút nhân lực giỏi từ bên ngoài. Đây là yếu tố quyết định để du lịch Việt Nam không chỉ tăng trưởng nhanh, mà còn tiến xa và bền vững.
Cần huy động nguồn lực xã hội hóa gắn với cơ chế chính sách đủ hấp dẫn để thu hút đầu tư du lịch
Những chủ trương mới của Trung ương, từ chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân đến hội nhập quốc tế sâu rộng, đang mở ra một không gian phát triển chưa từng có cho du lịch Việt Nam.
Vấn đề còn lại nằm ở khả năng thực thi đến đâu, có đủ quyết liệt để thay đổi cách làm cũ hay không.
Nếu tháo gỡ được các điểm nghẽn cốt lõi, du lịch hoàn toàn có thể bước sang một giai đoạn phát triển mới, ở đó mỗi hành trình không chỉ mang lại giá trị kinh tế, mà còn góp phần định hình vị thế Việt Nam.
Dự thảo Đề án gồm 5 phần: Đánh giá tình hình phát triển du lịch giai đoạn 2017-2025 từ khi có Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; Quan điểm, mục tiêu phát triển du lịch trong kỷ nguyên mới; Nhiệm vụ, giải pháp đột phá phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới; Tổ chức thực hiện; Kiến nghị, đề xuất.
NGUYỄN ANH
Nguồn Văn hóa : http://baovanhoa.vn/du-lich/go-nut-that-de-du-lich-viet-nam-thuc-su-tro-thanh-nganh-kinh-te-mui-nhon-226074.html