5 quan điểm về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới
Nghị quyết nêu rõ, trong những năm qua, các cấp, các ngành đã quán triệt thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng, phát triển Thủ đô đạt được nhiều kết quả tích cực.
TP Hà Nội đã nhận thức rõ vai trò là Thủ đô, trái tim của cả nước, trung tâm chính trị - hành chính, là trung tâm lớn về kinh tế - văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ của cả nước; luôn tích cực, chủ động, đi đầu trong thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, xây dựng Thủ đô “Văn hiến – Văn minh – Hiện đại”. Tuy nhiên, những kết quả đạt được chưa tương xứng với vị trí, vai trò, tiềm năng, lợi thế và vai trò đặc biệt của Thủ đô.
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và khẳng định vị thế trên trường quốc tế, việc xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang tầm chiến lược, lâu dài.
Trên cơ sở đó, Nghị quyết số 02-NQ/TW đề ra 5 quan điểm về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới.
Thứ nhất, thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của Thủ đô Hà Nội là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia; nơi hội tụ và lan tỏa tinh hoa văn hóa, trí tuệ và nguồn lực của đất nước; trung tâm kiến tạo, giữ vai trò dẫn dắt, định hình mô hình và tư duy phát triển mới; là hạt nhân, trung tâm kết nối và động lực phát triển của cả vùng và cực tăng trưởng của cả nước; dẫn đầu cả nước và vươn tầm khu vực về một số lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, hướng tới là TP kết nối toàn cầu.
Xây dựng và phát triển Thủ đô là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, trực tiếp và thường xuyên là Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thủ đô.
Thứ hai, xây dựng và phát triển Thủ đô “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc”; lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển. Trong đó, đặt văn hóa ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, “Văn hiến - Bản sắc - Sáng tạo” là giá trị cốt lõi xuyên suốt, nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm, nền tảng hình thành bản lĩnh, trí tuệ và động lực phát triển. Phát triển Thủ đô nhanh, bền vững, thông minh, hiện đại, bao trùm gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, thích ứng với biến đổi khí hậu; giữ vững quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
Thứ ba, Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn dài hạn 100 năm, ổn định theo không gian phát triển mở, cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, lấy sông Hồng làm trục cảnh quan sinh thái - văn hóa chủ đạo; gắn kết chặt chẽ với vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Trung du và miền núi phía Bắc và các hành lang kinh tế quốc gia, quốc tế.
Thứ tư, xác lập thể chế đặc thù, vượt trội; phân cấp; phân quyền triệt để, toàn diện gắn với cơ chế kiểm soát và trách nhiệm giải trình, bảo đảm Thủ đô có đủ thẩm quyền, công cụ và nguồn lực để chủ động quyết định, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm toàn diện đối với các vấn đề phát triển của Thủ đô.
Thứ năm, xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị của Thủ đô trong sạch, vững mạnh, nêu gương, hành động, trách nhiệm; thật sự tiêu biểu, mẫu mực về bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu.
Nghị quyết đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể đến năm 2035; đến năm 2045 và hướng đến 100 năm giải phóng Thủ đô (2054) và đến năm 2065.
Theo đó, đến năm 2035, Thủ đô Hà Nội trở thành đô thị xanh, thông minh, hiện đại; hội tụ tinh hoa văn hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; có năng lực cạnh tranh cao, chính trị - xã hội ổn định, TP thanh bình, người dân hạnh phúc, trở thành điểm đến an toàn, thân thiện và hấp dẫn.
Hình thành một số trung tâm giáo dục - đào tạo, y tế chất lượng cao thuộc nhóm dẫn đầu trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương; trung tâm dịch vụ tài chính, thương mại và đổi mới sáng tạo quan trọng cấp quốc gia, khu vực và quốc tế; trung tâm nghiên cứu, phát triển; giữ vai trò hạt nhân trong các chuỗi liên kết phát triển vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Trung du và miền núi phía Bắc, cả nước, khu vực và toàn cầu.
Đến năm 2045, Hà Nội trở thành một trung tâm đổi mới sáng tạo quan trọng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nơi hội tụ tri thức và công nghệ; hạ tầng, quản trị đô thị hiện đại; người dân có chất lượng sống cao; xã hội văn minh, an toàn, đáng sống, hạnh phúc.
Hướng tới 100 năm giải phóng Thủ đô (2054) và đến năm 2065, Thủ đô Hà Nội là TP toàn cầu, có trình độ phát triển cao và bền vững; thuộc nhóm các thủ đô có chất lượng sống và hạnh phúc cao trên thế giới.
Nghị quyết cũng đề ra từng chỉ tiêu cụ thể cho từng giai đoạn. Cụ thể, giai đoạn 2026-2030, tăng trưởng GRDP bình quân trên 11%/năm; đến năm 2030, quy mô GRDP đạt trên 113 tỷ USD, bình quân đầu người đạt tối thiểu 12.000 USD.
Giai đoạn 2031-2035, tăng trưởng GRDP bình quân từ 11% trở lên; đến năm 2035, quy mô GRDP đạt khoảng 200 tỷ USD, bình quân đầu người đạt tối thiểu 18.800 USD… Tỷ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt 60%; tỷ lệ đóng góp của kinh tế số vào tăng trưởng đạt 50%; tỷ trọng công nghiệp văn hóa đạt từ 10% trở lên.
Giai đoạn 2036-2045, tăng trưởng GRDP bình quân đạt 11%/năm. Đến năm 2045, quy mô GRDP đạt khoảng 640 tỷ USD, bình quân đầu người đạt tối thiểu 42.000 USD, thuộc nhóm cao trong khu vực; tiếp tục nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng; tăng tỷ trọng kinh tế số, công nghiệp văn hóa trong GRDP; duy trì chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức cao.
Giai đoạn 2046-2065, tăng trưởng GRDP bình quân trên 5%/năm. Đến năm 2065, quy mô GRDP đạt khoảng 1.920 tỷ USD, bình quân đầu người đạt tối thiểu 95.000 USD, thuộc nhóm cao trên thế giới.
Xây dựng thể chế đột phá phát triển Thủ đô
Nghị quyết đề ra 9 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu bao gồm Quy hoạch phát triển Thủ đô với tầm nhìn dài hạn, ổn định; đẩy mạnh liên kết, phát triển vùng; xây dựng thể chế đột phá phát triển Thủ đô; phát triển toàn diện văn hóa, con người Thủ đô; xác lập mô hình tăng trưởng mới của Thủ đô; phát triển các ngành kinh tế thế mạnh của Thủ đô.
Huy động, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực; giữ vững quốc phòng - an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; nâng tầm công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng bộ Thủ đô.
Trong đó, nhóm nhiệm vụ, giải pháp xây dựng thể chế đột phá phát triển Thủ đô nêu rõ việc hoàn thiện thể chế đồng bộ, bảo đảm vượt trội, ưu việt, đủ năng lực xử lý hiệu quả các vấn đề của Hà Nội, của vùng Thủ đô, vùng đồng bằng Sông Hồng, vùng Trung du và miền núi phía Bắc và những vấn đề mang tầm quốc gia, quốc tế.
Phân cấp, phân quyền triệt để cho TP trong các lĩnh vực (trừ các nội dung về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và tôn giáo); tăng thẩm quyền của chủ tịch UBND các cấp; cho phép TP được ban hành văn bản để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội khác hoặc chưa có quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; mở rộng quyền tự chủ, tự quyết, tự chịu trách nhiệm trong tổ chức bộ máy, quản trị hành chính.
TP được quyết định biên chế các cơ quan trong hệ thống chính trị của TP, chế độ công vụ, công chức, viên chức, thu nhập, tiền thưởng, bảo đảm tăng cường phân cấp, phân quyền phải gắn với trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực hiệu quả trong tổ chức thực hiện.
Thủ đô chủ động xây dựng cơ chế thí điểm, thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), các cơ chế, chính sách mới hoặc khác với quy định của pháp luật, từ đó tổng kết, đề xuất nhân rộng trên phạm vi cả nước. Có cơ chế bảo vệ cán bộ, miễn trừ trách nhiệm pháp lý đối với các trường hợp không tư lợi, đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, quyền hạn được giao theo quy định trong thực hiện nhiệm vụ.
Xác lập mô hình quản trị Thủ đô thông minh, hiện đại, dựa trên dữ liệu và theo thời gian thực, với sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo; chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển, từ phân tán sang tích hợp, đồng bộ, từ ngắn hạn sang dài hạn, bền vững. Mọi quyết sách lớn được nghiên cứu, mô phỏng, thử nghiệm trước khi triển khai. Xây dựng hệ thống chính trị tinh, gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu phát triển đô thị đặc biệt; môi trường công vụ chuẩn mực, liêm chính, gần dân, vì dân phục vụ.
Về tổ chức thực hiện, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức Đảng và hệ thống chính trị của Hà Nội triển khai thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả Nghị quyết. Trong đó, phát huy cao độ sự đồng thuận xã hội, vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp Nhân dân nhằm sớm đưa Nghị quyết đi vào cuộc sống.
Thành ủy Hà Nội phối hợp với Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo việc ban hành Luật Thủ đô (mới) và một số luật, quy hoạch, quy định về đầu tư, tài chính, ngân sách, xây dựng, đê điều… có liên quan. Đồng thời, phối hợp với các cơ quan, bộ, ngành, địa phương rà soát, điều chỉnh, bổ sung các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển có liên quan; thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện.
Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo ban hành Luật Thủ đô (mới) nhằm hoàn thiện thể chế đặc biệt, vượt trội, ổn định, có tầm nhìn dài hạn, phù hợp với vị trí, vai trò, tính chất riêng có của Thủ đô, đưa thể chế, chính sách về Thủ đô trở thành lợi thế cạnh tranh khu vực và quốc tế.
Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo Chính phủ trình Quốc hội Luật Thủ đô (mới), trong đó quy định phân cấp, phân quyền triệt để, toàn diện cho Thủ đô bảo đảm đủ thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết công việc đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới; cho ý kiến hoàn thiện Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm. Định kỳ hoặc khi cần thiết, làm việc với Thủ đô Hà Nội để kiểm điểm, đánh giá tiến độ thực hiện Nghị quyết…
Tường Minh