Trập trùng núi Hải Vân. Ảnh: Thuận Triều
1. Nhật ký du hành gặp vua xứ Đàng Trong (Journey to meet the King of Cochinchina) của James Bean có nhắc đến “quán Hộ” ở đèo Hải Vân. Đó là hồi đầu tháng 1/1764, vào ngày thứ ba kể từ khi James Bean cùng các nhân viên Công ty Đông Ấn thuộc Anh rời Hội An ra Huế để yết kiến “vua xứ Đàng Trong”, tức chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát. “Chúng tôi đã tới quán Hộ (little Ho) nằm bên đường thiên lý, dành cho khách bộ hành những thực phẩm chế biến sẵn và bạn có thể dùng bữa với hai que tre. Chúng tôi dừng chân lại đây lấy lại sức để xuống núi”, vị mại biện người Anh viết.
Năm 1995, một giáo sư người Anh khảo sát thực địa từ Anh sang Ấn Độ và Việt Nam để tìm lại dấu vết cuộc hành trình của James Bean. Tình cờ gặp nhau tại chùa Quán Thế Âm (Ngũ Hành Sơn), nhà nghiên cứu Nguyễn Sinh Duy tiếp cận tư liệu nhật ký du hành chưa hề được công bố của James Bean từ vị giáo sư này, sau đó giới thiệu trong cuốn Quảng Nam và những vấn đề sử học (Nxb Văn hóa thông tin, 2006).
Trước James Bean gần 70 năm, vào cuối tháng 11/1695, từ Hội An, Hòa thượng Thích Đại Sán (Trung Quốc) từ Hội An ra Huế từng ngang qua Hải Vân. Ngoài cảnh hoang liêu và hiểm trở, ông chỉ thấy có mấy gian nhà cỏ dựng lên để làm chỗ nấu nước trà bán cho khách nên tự vấn: “Non xanh nước tốt, động thẳm suối trong, chỗ nào cũng có thể ở được. Không hiểu vì sao, không ai về đây làm nhà ở?”. Hòa thượng Thích Đại Sán tiếc nuối, rằng trên con đường hành khách thường qua lại mà không ai sửa sang. Thế rồi, như ghi chép trong Hải ngoại kỷ sự, chính ông đã viết một bài khuyến quyến đắp đường qua con đèo này.
Cho đến khi James Bean qua đèo, chữ “quán Hộ” xuất hiện. Quán Hộ là một quán nhỏ ở các trạm dịch, dựng lên để phục vụ ăn uống cho khách bộ hành và giúp (hộ) họ lưu lại nghỉ lấy sức. Nhiều nhà nghiên cứu ghi nhận, tại địa bàn Thanh Khê (Đà Nẵng) vẫn còn địa danh Quán Hộ.
2. Khoảng 70 năm sau ngày James Bean ngang qua đèo Hải Vân, vua Minh Mạng ban chỉ dụ kêu gọi dân đến làm nhà sống trên đỉnh đèo. Theo chỉ dụ chép trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, vua Minh Mạng chỉ dụ cho nhân dân ở phủ Thừa Thiên và tỉnh hạt Quảng Nam: ai chịu đến làm nhà ở hai bên đường núi đèo Hải Vân thì miễn tất cả thuế thân, binh lính, giao dịch; ruộng vườn khai khẩn được, hoa lợi lúa thóc cũng miễn thuế. “Để cho từ đầu núi đến chân núi, từng đoạn nhà ở nối tiếp, cho người đi đường đói ăn khát uống có chỗ nghỉ ngơi, như thế, người ở đây cũng được nhờ vả, mà người đi đường lại bớt tình trạng mệt nhọc", chỉ dụ viết.
Trong một bút ký về đèo Hải Vân, cố nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường từng cảm thán “hình như trên những đỉnh núi cao chất ngất nhìn ra biển như thế này, người ta thường bị kích thích bởi một nguồn mỹ cảm Đông phương hàm chứa hai yếu tố tương phản gọi là Sơn Thủy, vốn sinh thành nên cái đẹp của thế giới”. Ông cũng nhắc chuyện vua Minh Mạng ban bố một loạt chính sách nhằm “dân cư hóa” đèo Hải Vân và trồng cây mít dọc đường thiên lý, cho bóng mát để người đi đường nghỉ ngơi, cho gỗ để làm nhà, cho trái để ăn.
Lối đi qua Hải Vân quan trên đỉnh đèo Hải Vân, được chạm khắc vào Cửu đỉnh. Ảnh: Thuận Triều
Lại nhắc thêm một truyền thuyết nữa: hai bên chân đèo Hải Vân cho đến trước Cách mạng Tháng Tám vẫn còn có hai bãi đất trống cắm những cây sào nhọn. Người đi đường sẽ nhổ một chiếc sào bịt sắt ở bãi đất bên này, mang theo khi đi bộ qua đèo làm vũ khí phòng khi gặp cọp dữ, rồi cắm trả lại ở bãi đất phía bên kia.
Xem ra, cọp dữ ở đèo Hải Vân ám ảnh người đi đường suốt nhiều thế kỷ. Trong bài thơ thứ 12 viết nhân chuyến ra Huế năm 1695, Hòa thượng Thích Đại Sán mô tả: “Đường đi beo với cọp/ Rừng rú phải phòng thân”... Lúc qua đèo, khi xuống tới chân núi, James Bean cũng nhìn thấy một miếu thờ thần hổ (joss Ho) và thốt lên: “Thật là sung sướng khi thoát khỏi nanh vuốt của loài hổ đã từng xé nát nhiều khách bộ hành phải xuyên qua những lối đi rậm rịt”.
* * *
Ngày nay, những tuyến đường thiếu đồng bộ khi đi qua đô thị dễ tạo thành những “vết cắt”, chia tách cộng đồng dân cư và không gian sinh thái. Nhưng trong quá khứ, con đường lại là nơi con người được mời gọi "dọn" đến để dựng nhà, trồng cây cho bóng mát, để người và cây đều là ân nhân giữa chốn rừng núi hoang vu.
Người xưa hiểu rằng, chỉ khi có người ở, có bóng cây chở che và sự đùm bọc lẫn nhau, những bước chân lưu dân mới đủ vững vàng trên hành trình mở cõi về phương Nam, từng bước mở rộng hình hài đất nước.
THUẬN TRIỀU