Cam kết thuế 0% tạo lợi thế lớn để Việt Nam đàm phán với Mỹ

Cam kết thuế 0% tạo lợi thế lớn để Việt Nam đàm phán với Mỹ
17 giờ trướcBài gốc
Tổng Bí thư Tô Lâm điện đàm với Tổng thống Mỹ Donald Trump từ Trụ sở Trung ương Đảng tối 4/4. Ảnh: TTXVN.
"Việt Nam cần thể hiện vai trò chủ động và thiện chí trong việc tái cấu trúc quan hệ thương mại với Mỹ, không chỉ qua việc nhập khẩu mà còn bằng những giải pháp chiến lược hợp tác quốc phòng, hạ tầng, công nghệ và giáo dục. Đây không chỉ là bài toán “cán cân" thương mại mà là cơ hội nâng cấp quan hệ song phương lên một tầm cao mới và thực tế” - GS Agustine Hà Tôn Vinh, chuyên gia kinh tế - tài chính, thành viên Đảng Cộng hòa, người nằm trong bộ máy vận động tranh cử Tổng thống Mỹ năm 2024 cho ông Donald Trump, nói khi trò chuyện với VietTimes.
Tín hiệu thể hiện thiện chí rất lớn từ phía Việt Nam
- GS đánh giá như thế nào về việc Tổng Bí thư Tô Lâm điện đàm trực tiếp với Tổng thống Donald Trump (tham dự có Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Lê Hoài Trung, Phó thủ tướng Chính phủ Hồ Đức Phớc) và bày tỏ sẵn sàng đưa mức thuế nhập khẩu hàng hóa Mỹ về 0%?
-Đây là bước đi ngoại giao quan trọng, mang nhiều ý nghĩa chiến lược, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam muốn thúc đẩy mối quan hệ thương mại - đầu tư song phương với Hoa Kỳ và Tổng thống Donald Trump vừa tuyên áp thuế 46% với hàng hóa Việt Nam vào Mỹ.
Một là tác động về mặt chính trị - ngoại giao: Đây là tín hiệu thể hiện thiện chí rất lớn từ phía Việt Nam trong việc tạo điều kiện cho hàng hóa Mỹ thâm nhập thị trường Việt Nam.
Đối với ông Donald Trump - người nhấn mạnh “đàm phán song phương có lợi cho Mỹ” - việc một quốc gia cam kết giảm thuế về 0% là điều có thể gây thiện cảm mạnh, nhất là trong bối cảnh ông đang muốn thể hiện khả năng tái cân bằng thương mại.
Việc người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam trực tiếp điện đàm thể hiện đây không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn mang tính chiến lược.
GS Agustine Hà Tôn Vinh.
Hai là khả năng Mỹ thay đổi mức áp thuế 46% đối với hàng hóa Việt Nam: Việc Mỹ áp thuế 46% (giả sử là lên mặt hàng như gỗ dán, thép, hoặc sản phẩm dán nhãn xuất xứ không đúng) thường xuất phát từ lo ngại gian lận thương mại hoặc bảo hộ ngành công nghiệp trong nước, nên việc thay đổi mức thuế không hoàn toàn chỉ phụ thuộc vào thiện chí của Việt Nam.
Tuy nhiên, nếu Việt Nam thể hiện thiện chí mạnh mẽ và đồng thời đưa ra lộ trình cải thiện minh bạch xuất xứ hàng hóa kết hợp với ưu đãi thuế nhập khẩu từ Mỹ, thì điều này có thể tạo ra một nền tảng đàm phán lại.
Việc Việt Nam đi trước một bước với cam kết thuế nhập khẩu 0% có thể tạo tiền đề để Mỹ xem xét lại mức áp thuế 46%, ít nhất là cho một số mặt hàng cụ thể trong khuôn khổ một hiệp định song phương.
Ba là mở ra khả năng đàm phán một hiệp định thương mại song phương (FTA): Đây có thể là bước mở đầu để 2 bên xem xét tiến tới một FTA Mỹ – Việt Nam kiểu mới, vì Việt Nam hiện chưa có FTA song phương với Mỹ. Một FTA như vậy, nếu được khởi động, có thể xóa bỏ hầu hết hàng rào thuế quan, đồng thời thiết lập cơ chế kiểm soát chặt chẽ xuất xứ – điều mà phía Mỹ đặc biệt quan tâm.
Khi hàng hóa Mỹ vào Việt Nam có mức thuế 0%
-Việc đưa mức thuế nhập khẩu về 0% đối với hàng hóa từ Mỹ vào Việt Nam sẽ tạo ra nhiều tác động sâu rộng đến nền kinh tế Việt Nam, cả tích cực lẫn tiêu cực. Ý kiến của GS về vấn đề này?
-Đúng như ông đặt vấn đề. Nếu mức thuế bằng 0% với hàng hóa Mỹ vào Việt Nam được thực thi thì:
Người tiêu dùng được lợi (hàng hóa Mỹ rẻ hơn). Hàng hóa Mỹ, vốn có chất lượng cao nhưng thường giá đắt do thuế nhập khẩu, khi đó sẽ rẻ hơn nhiều, người dân có thêm lựa chọn, tiếp cận sản phẩm chất lượng với giá thấp hơn. Ví dụ: iPhone, máy tính Dell, thực phẩm chức năng, thịt bò Mỹ, ô tô, dược phẩm, v.v.
Nhưng doanh nghiệp nội địa chịu áp lực cạnh tranh lớn. Hàng hóa nội địa có thể khó cạnh tranh về chất lượng và giá cả, đặc biệt ở các ngành còn yếu như: thực phẩm chế biến, thiết bị điện tử, nông sản công nghệ cao... Doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ bị ảnh hưởng mạnh nhất do thiếu khả năng đổi mới, nâng cấp chất lượng hoặc mở rộng thị trường xuất khẩu.
Ngân sách nhà nước có thể thất thu. Thuế nhập khẩu là một nguồn thu ngân sách quan trọng, đặc biệt với các mặt hàng có thuế suất cao như ô tô, rượu, mỹ phẩm, thịt bò... Việc giảm thuế về 0% có thể khiến thu ngân sách giảm tạm thời, đặc biệt là từ hải quan.
Tuy nhiên việc giảm thuế về 0% sẽ làm tăng thu từ thuế giá trị gia tăng (VAT) do lượng tiêu dùng tăng lên; Tăng thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) từ các doanh nghiệp thương mại nếu họ mở rộng hoạt động nhờ hàng Mỹ giá rẻ và thúc đẩy xuất khẩu ngược sang Mỹ, từ đó tăng nguồn thu từ các lĩnh vực sản xuất, logistics.
Ngoài ra việc cải cách thuế nội địa (ví dụ áp thuế tài sản, thuế môi trường, v.v.) sẽ là xu hướng được cân nhắc lâu dài.
Với mức thuế 0% hàng hóa Mỹ, nhất là ô tô sẽ tràn vào thị trường Việt Nam sẽ xuất hiện những thách thức lớn cho ngành ô tô nội địa.
-Còn đối với ngành ô tô nội địa thì sao, khi mà ô tô từ Mỹ sẽ “tràn vào” thị trường Việt Nam, thưa GS?
-Sẽ xuất hiện những thách thức lớn cho ngành ô tô nội địa. Mỹ có ngành ô tô rất phát triển (Ford, Chevrolet, Tesla...). Nếu không còn thuế, ô tô Mỹ có thể tràn vào Việt Nam với giá cạnh tranh. VinFast và các hãng lắp ráp trong nước sẽ bị ảnh hưởng nếu không nhanh chóng đổi mới công nghệ, hạ giá thành, mở rộng thị trường xuất khẩu. Bên cạnh đó các ngành công nghiệp phụ trợ như: linh kiện, sơn xe, nội thất, logistics… cũng bị ảnh hưởng.
Tuy nhiên, mặt tích cực cũng không phải là ít. Việc Mỹ được miễn thuế nhập khẩu vào Việt Nam giúp doanh nghiệp ô tô nội địa (như VinFast, Thaco...) có thể nhập linh kiện, động cơ, chip, cảm biến, phần mềm từ Mỹ với chi phí thấp hơn; thu hút các doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào chuỗi cung ứng ô tô tại Việt Nam. Các công ty như Tesla, Rivian, Ford có thể hợp tác hoặc chuyển một phần chuỗi sản xuất – phần mềm – AI sang Việt Nam để tận dụng lợi thế thuế và nhân công.
Ngoài ra, cơ hội xuất khẩu xe hoặc linh kiện đi Mỹ cũng tăng lên. Nếu ngành ô tô Việt Nam đạt chuẩn, có thể xuất khẩu một số mẫu xe điện (như VinFast) hoặc linh kiện xe sang Mỹ, không bị rào cản thuế. Tuy nhiên, về lâu dài, Việt Nam buộc phải nâng cao năng lực cạnh tranh nội địa, tập trung vào các ngành có lợi thế. Ví dụ: dệt may, da giày, chế biến nông sản, thủy sản, CNTT…
Đồng thời, việc này cũng khuyến khích đầu tư FDI vào sản xuất nội địa để tận dụng thị trường mở. Xu hướng chuyển đổi số, tự động hóa, nghiên cứu phát triển (R&D) trở thành bắt buộc để sống sót trong môi trường cạnh tranh toàn cầu.
Thủ tướng Phạm Minh Chính cho rằng đây là thời cơ để phát triển năng lực nội tại.
Nếu Mỹ gỡ bỏ mức thuế 46%, điều gì sẽ xảy ra?
-GS có tin rằng Mỹ sẽ thay đổi mức thuế 46% với hàng hóa Việt Nam vào Mỹ hay không?
-Việc Tổng Bí thư Tô Lâm điện đàm và sẵn sàng đàm phán với Mỹ để đưa mức thuế 0% với hàng hóa Mỹ vào Việt Nam là bước đi rất quan trọng trong việc ông Trump xem xét lại quyết định của mình. Tuy nhiên, chênh lệch giữa hàng hóa Việt Nam vào Mỹ và hàng hóa Mỹ vào Việt Nam vẫn rất lớn. Đó mới là mấu chốt của vấn đề. Vì vậy việc thu hẹp khoảng cách này là hết sức quan trọng. Nếu với mức thuế 0% được triển khai thì hàng hóa Mỹ vào Việt Nam sẽ gia tăng đáng kể.
- Thường sẽ có 2 kịch bản xảy ra. Một là Mỹ sẽ gỡ bỏ mức thuế 46%. Hai là có thay đổi nhưng không đáng kể. GS có thể phân tích về kịch bản Mỹ sẽ gỡ bỏ mức thuế 46%, cả về lợi ích trực tiếp, hệ quả gián tiếp và chiến lược dài hạn?
-Đây sẽ là biểu hiện rõ ràng của việc Mỹ coi Việt Nam là đối tác tin cậy và chiến lược, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ - Trung gia tăng. Nó cho thấy Mỹ tin tưởng vào cam kết và năng lực quản lý thị trường của Việt Nam, đặc biệt về vấn đề gian lận xuất xứ – một điểm nóng trong thời gian qua.
Nếu Mỹ gỡ bỏ mức thuế 46% với hàng hóa Mỹ vào Việt Nam thì sẽ có những mặt tích cực như sau:
Đầu tiên là gỡ bỏ trở ngại lớn nhất trong xuất khẩu: Thuế 46% là rào cản phi thị trường, khiến nhiều mặt hàng Việt Nam mất tính cạnh tranh nghiêm trọng tại thị trường Mỹ, dù có chất lượng tốt. Gỡ bỏ thuế sẽ làm hồi sinh toàn bộ chuỗi cung ứng cho các ngành bị ảnh hưởng (đặc biệt là gỗ, thép, sản phẩm nhôm, dệt may nếu có).
Đối với kinh tế Việt Nam, việc này trước hết làm tăng trưởng xuất khẩu sang Mỹ. Mỹ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Việc tháo bỏ mức thuế này sẽ giúp tăng sản lượng xuất khẩu cho các mặt hàng bị ảnh hưởng, gia tăng kim ngạch thương mại song phương, có thể góp phần thu hẹp thâm hụt thương mại mà Mỹ thường phàn nàn.
Giảm thuế cũng sẽ thu hút đầu tư FDI từ Mỹ và các nước “né Trung Quốc”. Doanh nghiệp Mỹ có thể chuyển đơn hàng hoặc nhà máy từ Trung Quốc sang Việt Nam để tận dụng chính sách ưu đãi và thuế suất 0%. Việt Nam sẽ nổi bật hơn trong vai trò thúc đẩy chuỗi cung ứng toàn cầu sau đại dịch và xung đột địa chính trị.
Về việc tác động lan tỏa đến các ngành khác, việc gỡ bỏ thuế có thể không giới hạn ở một vài mặt hàng, mà tạo tiền lệ cho các ngành khác đàm phán tương tự. Tâm lý doanh nghiệp và nhà đầu tư quốc tế với thị trường Việt Nam sẽ được củng cố niềm tin, thúc đẩy các quyết định đầu tư mới.
Tuy nhiên, việc Mỹ gỡ bỏ thuế có thể đi kèm điều kiện như Việt Nam phải tăng cường kiểm soát xuất xứ hàng hóa, tránh hiện tượng “đội lốt” hàng Trung Quốc; tuân thủ các cam kết về lao động, môi trường, minh bạch tài chính; có thể bị gia tăng kiểm tra kỹ thuật và hải quan ở phía Mỹ để tránh lợi dụng chính sách.
Nếu mức thuế 46% không được gỡ bỏ
-Giờ chúng ta bàn đến kịch bản Mỹ không gỡ bỏ mức thuế 46% đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam…
-Đây sẽ là một kịch bản tiêu cực hơn trong ngắn hạn, nhưng vẫn mở ra những cơ hội và bước đi chiến lược nếu Việt Nam có phản ứng phù hợp.
Về ngắn hạn, các doanh nghiệp trong ngành chịu thuế (ví dụ: gỗ công nghiệp, thép, nhôm, lốp xe, sản phẩm công nghệ thấp...) sẽ tiếp tục bị thu hẹp biên lợi nhuận, hoặc mất hẳn thị phần tại Mỹ. Điều này có thể làm giảm công suất sản xuất, gây ra tình trạng sa thải lao động, nhất là ở các tỉnh có tỷ lệ phụ thuộc lớn vào xuất khẩu Mỹ.
Các doanh nghiệp buộc phải chuyển hướng sang thị trường khác (châu Âu, Đông Bắc Á, Trung Đông...), nhưng điều này mất thời gian và tốn kém chi phí tái định vị thương hiệu và logistics. Một số sản phẩm có thể khó tìm thị trường thay thế tương đương Mỹ về quy mô và giá trị.
Về địa chính trị, tạm thời kìm hãm đà cải thiện quan hệ kinh tế song phương. Nếu duy trì mức thuế cao này thì có thể Mỹ đang dùng thuế như công cụ gây sức ép đàm phán trong những lĩnh vực sâu hơn (ví dụ: công nghệ, chuỗi cung ứng bán dẫn, tiêu chuẩn lao động). Quan hệ song phương có thể tạm chững lại ở cấp kinh tế, dù chính trị vẫn ấm lên.
Trong trường hợp này Việt Nam cần chủ động đàm phán kỹ thuật và minh bạch hóa chuỗi cung ứng. Dù Mỹ không gỡ thuế ngay, Việt Nam vẫn có thể chủ động làm sạch chuỗi cung ứng, minh bạch hóa nguồn gốc hàng hóa, mời chuyên gia Mỹ hoặc tổ chức quốc tế vào giám sát nhằm tạo nền tảng kỹ thuật để Mỹ không thể biện minh cho việc duy trì thuế lâu dài.
Đồng thời tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp tái cấu trúc thị trường. Chính phủ có thể thiết lập quỹ hỗ trợ chuyển đổi thị trường xuất khẩu, hỗ trợ xúc tiến thương mại ở EU, Hàn Quốc, UAE, Ấn Độ... Ưu đãi thuế nội địa, tín dụng, logistics để giảm bớt thiệt hại cho doanh nghiệp trong ngắn hạn.
Dùng đòn bẩy thương mại để tạo áp lực ngược: Nếu Việt Nam đã tuyên bố giảm thuế nhập khẩu hàng hóa Mỹ về 0%, nhưng Mỹ vẫn giữ thuế cao với hàng Việt, thì Việt Nam hoàn toàn có thể tạm hoãn một số ưu đãi thuế nhập khẩu cho Mỹ (trong khuôn khổ cho phép của WTO). Đưa vấn đề ra diễn đàn WTO hoặc ASEAN - Mỹ để tìm tiếng nói đa phương.
Việc không phụ thuộc vào Mỹ có thể là động lực để Việt Nam chuyển mạnh sang công nghệ cao, nâng tiêu chuẩn hàng hóa, đẩy mạnh hội nhập vào các FTA khác như EVFTA, CPTPP, RCEP, thay vì chỉ trông vào thị trường Mỹ.
Tuy nhiên việc này sẽ tăng giá trị mặc cả trong tương lai. Nếu Việt Nam giữ được ổn định kinh tế và xuất khẩu vẫn tăng trưởng dù không có ưu đãi thuế từ Mỹ, thì trong trung, dài hạn, Mỹ sẽ tự quay lại bàn đàm phán với thái độ mềm hơn. Khi ấy, Việt Nam có thể đặt ra các điều kiện thuận lợi hơn, thay vì nhượng bộ từ đầu.
Nếu Mỹ gỡ bỏ mức thuế 46% hàng Việt Nam vào Mỹ thì ngành thép Việt Nam có cơ hội lớn phát triển.
Cần tái cấu trúc quan hệ thương mại với Mỹ
-Thưa GS, “con bài chiến lược” mà Việt Nam có thể đưa ra đàm phán với Mỹ để Mỹ không thể không gỡ bỏ mức thuế 46% với hàng hóa Việt Nam vào Mỹ là gì?
- Để tiến tới cân bằng thương mại một cách bền vững và có lợi cho Việt Nam, chỉ nhập hàng Mỹ là chưa đủ. Những chiến lược mang tính chất “win-win” và tạo nền tảng lâu dài cần triển khai những dự án lớn, trọng điểm, có giá trị thương mại cao như hiện đại hóa quốc phòng có chọn lọc, hợp tác hạ tầng trọng điểm, và mở cửa cho đầu tư công nghệ cao... sẽ tạo thế chủ động cho Việt Nam trên bàn cờ thương mại- chiến lược với Mỹ.
Dưới đây là một số giải pháp mà Chính phủ Việt Nam có thể triển khai:
Một là thông qua chiến lược hiện đại hóa nền quốc phòng để bảo vệ tổ quốc bằng việc mua sắm thiết bị quân sự từ Mỹ (nghiên cứu mua sắm các thiết bị quân sự phục vụ mục tiêu phòng thủ; ưu tiên thiết bị lưỡng dụng, có thể chuyển giao công nghệ; kết hợp đào tạo và bảo trì tại Việt Nam, tăng nội địa hóa).
Việc làm này góp phần giảm chênh lệch cán cân thương mại bằng những hợp đồng lớn. Đồng thời tăng cường khả năng phòng thủ, hiện đại hóa quân đội theo hướng công nghệ cao. Mở rộng quan hệ chiến lược, nâng cấp lòng tin với Mỹ trong bối cảnh địa chính trị đang phức tạp. Tuy nhiên cũng cần phải tính tới việc cân bằng quan hệ quốc tế, tránh gây mất cân bằng với các đối tác truyền thống. Cần đảm bảo việc mua sắm là phục vụ nhu cầu thực tế, không chạy theo hình thức.
Hai là hợp tác đầu tư hạ tầng quy mô lớn bằng việc mở cửa cho doanh nghiệp Mỹ tham gia đấu thầu, đầu tư các dự án như Đường sắt cao tốc Bắc – Nam: Cao tốc kết nối sân bay Long Thành – Tân Sơn Nhất; Các trung tâm logistics, hạ tầng giao thông thông minh bằng cơ chế PPP linh hoạt, pháp lý rõ ràng, ưu tiên minh bạch và cam kết chuyển giao công nghệ.
Việc mở rộng cửa này không chỉ thu hút nguồn vốn chất lượng cao, công nghệ tiên tiến và quản trị minh bạch mà còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp Mỹ đầu tư lâu dài, giúp cân bằng cán cân đầu tư- thương mại.
Ba là phát triển các khu công nghiệp chuyên biệt cho doanh nghiệp Mỹ. Việt Nam có thể quy hoạch một hoặc vài khu công nghiệp “ưu tiên đầu tư Mỹ” với cơ chế đặc biệt như: hỗ trợ pháp lý, thuế, logistics riêng biệt. Gắn với các lĩnh vực Mỹ có thế mạnh: công nghệ cao, bán dẫn, hàng không, AI, chip... Việc làm này nhằm mục tiêu thu hút doanh nghiệp Mỹ dịch chuyển chuỗi cung ứng sang Việt Nam - thay vì sang các nước khác.
Bốn là tăng cường hợp tác giáo dục- chuyển giao tri thức: Cho phép các trường đại học uy tín của Mỹ mở phân hiệu hoặc hợp tác đào tạo tại Việt Nam; Nhập khẩu chương trình đào tạo, công nghệ giáo dục số; Mở rộng hợp tác nghiên cứu, đổi mới sáng tạo. Mua bản quyền, nhập khẩu công nghệ y tế, dược phẩm, AI, năng lượng tái tạo từ Mỹ. Hợp tác xây dựng bệnh viện, trung tâm R&D- tạo đòn bẩy cho xuất khẩu tri thức và công nghệ từ Mỹ.
Đi cùng với các giải pháp này cần xây dựng chính sách hỗ trợ cụ thể như: Thiết lập cơ chế “Đối thoại chiến lược thương mại, đầu tư Việt- Mỹ” thường niên; Xây dựng Quỹ hợp tác công nghệ- hạ tầng Việt- Mỹ; Đẩy mạnh công tác ngoại giao nghị viện và ngoại giao doanh nghiệp.
Tóm lại Việt Nam cần thể hiện vai trò chủ động và thiện chí trong việc tái cấu trúc quan hệ thương mại với Mỹ, không chỉ qua việc nhập khẩu mà còn bằng những giải pháp chiến lược: hợp tác quốc phòng, hạ tầng, công nghệ và giáo dục. Đây không chỉ là bài toán “cán cân thương mại” mà là cơ hội nâng cấp quan hệ song phương lên một tầm cao mới và thực
-Xin cám ơn GS!
Lê Thọ Bình
Nguồn VietTimes : https://viettimes.vn/cam-ket-thue-0-tao-loi-the-lon-de-viet-nam-dam-phan-voi-my-post184277.html?utm_source=web_vt&utm_medium=home_noibat_vt&utm_campaign=noibat