Cần 'chia lửa' cho hệ thống ngân hàng

Cần 'chia lửa' cho hệ thống ngân hàng
3 giờ trướcBài gốc
Trong bức tranh vĩ mô ấy, hệ thống TCTD đóng vai trò là “mạch máu” chủ đạo, gánh vác sứ mệnh cung ứng vốn cho toàn nền kinh tế. Tuy nhiên, qua thảo luận tại nghị trường Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu đều cho rằng ngành Ngân hàng đang phải chịu những áp lực quá sức. Để phát triển bền vững và bảo vệ an toàn hệ thống tín dụng, bài toán cấp bách hiện nay là phải dùng các công cụ thị trường để nắn dòng tín dụng chảy vào khu vực tạo giá trị thực, đồng thời khơi thông mạnh mẽ thị trường vốn nhằm “chia lửa” cho hệ thống các TCTD.
“Chia lửa” cho ngành Ngân hàng nhằm kiến tạo động lực cho tăng trưởng hai con số
Nghịch lý “lấy ngắn nuôi dài” và sức ép lên hệ số an toàn vốn
Từ góc độ của một chuyên gia tài chính, đại biểu Nguyễn Như So (Bắc Ninh) đã chỉ ra một nghịch lý kép đang đè nặng lên vai hệ thống các TCTD: Tỷ lệ tín dụng trên GDP hiện nay đã lên tới mức 146%, nhưng trên thực tế, nền kinh tế vẫn luôn trong tình trạng “khát” vốn trung và dài hạn.
Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng này xuất phát từ sự lệch pha kỳ hạn. Nguồn vốn huy động của hệ thống TCTD chủ yếu là ngắn hạn nhưng lại đang phải gánh vác trọng trách tài trợ cho các dự án đầu tư mang tính chất trung và dài hạn của doanh nghiệp. Việc liên tục phải “lấy ngắn nuôi dài” không chỉ tạo ra áp lực khổng lồ lên thanh khoản của các ngân hàng mà còn là căn nguyên khiến dòng vốn không chảy vào khu vực tạo giá trị gia tăng cao, từ đó làm cho hệ số sử dụng vốn (ICOR) của Việt Nam luôn duy trì ở mức cao. Điều này đồng nghĩa với việc nền kinh tế phải bơm ra nhiều tiền hơn, tạo sức ép lớn hơn cho ngân hàng, nhưng lại thu về mức tăng trưởng không tương xứng.
Sự đồng cảm với những khó khăn của ngành Ngân hàng tiếp tục được đại biểu Nguyễn Hải Nam (Thừa Thiên - Huế) làm rõ qua lăng kính so sánh quốc tế. Với tỷ lệ tín dụng trên GDP ở mức khoảng 145%, hệ thống ngân hàng Việt Nam đang phải chịu áp lực cao hơn rất nhiều so với các quốc gia trong cùng khu vực, như Malaysia hay Thái Lan, nơi chỉ số này chỉ neo ở mức khoảng 110%. Một tỷ lệ tín dụng/GDP phình to vượt ngưỡng không chỉ bào mòn dư địa tăng trưởng tín dụng trong tương lai mà còn đặt hệ thống ngân hàng trước những rủi ro tiềm tàng về nợ xấu, đồng thời tạo sức ép trực tiếp lên các chỉ số an toàn vốn (CAR). Nếu giả thiết chúng ta quyết tâm hạ hệ số ICOR xuống mức 4,5% để tối ưu hóa nền kinh tế, chúng ta vẫn cần khoản đầu tư tương đương 40% GDP (khoảng hơn 200 tỷ USD). Số vốn khổng lồ này nếu tiếp tục trút lên vai hệ thống tín dụng sẽ là một gánh nặng không thể kham nổi.
Hơn thế nữa, các NHTM hiện nay còn đang phải nỗ lực thực hiện các nhiệm vụ chính trị - xã hội trong việc hỗ trợ nền kinh tế. Điển hình như đầu tháng 4/2026, NHNN đã làm việc với 46 NHTM và các đơn vị này đã cam kết giảm lãi suất để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong bối cảnh chi phí huy động vốn vẫn chịu nhiều áp lực, đại biểu Nguyễn Duy Thanh (Cà Mau) cho rằng, để NHTM giảm được lãi suất đầu ra một cách bền vững, họ cần những bệ đỡ vĩ mô vững chắc hơn, thay vì chỉ dựa vào sự hy sinh biên lợi nhuận.
Khơi thông thị trường trái phiếu
Bên cạnh áp lực về quy mô, một nỗi lo lớn hơn đối với chất lượng tín dụng chính là sự méo mó trong cơ cấu phân bổ dòng vốn. Một lượng lớn vốn tín dụng thay vì chảy vào khu vực sản xuất, công nghiệp chế tạo, lại đang bị “giam lỏng” trong các tài sản đầu cơ.
Đại biểu Lê Hoàng Anh (Gia Lai) kiến nghị, Chính phủ không nên dùng mệnh lệnh hành chính mang tính khiên cưỡng, mà cần kiểm soát tín dụng bất động sản đầu cơ bằng các công cụ thị trường. Cụ thể, có thể áp dụng cơ chế dự trữ bắt buộc phân biệt theo lĩnh vực để ép dòng tín dụng chuyển hướng sang sản xuất và công nghệ. Cùng với đó, sử dụng công cụ thuế (như đánh thuế lũy tiến đối với nhà đất thứ hai, phí đất dự án chậm triển khai) để triệt tiêu động lực đầu cơ, buộc đất đai quay về giá trị sử dụng thật, giải phóng không gian cho tăng trưởng.
Từ một hướng tiếp cận khác, để “cởi trói” cho bảng cân đối kế toán của các ngân hàng, đại biểu Nguyễn Như So đề xuất, cần hình thành thị trường tái cấp vốn thứ cấp thông qua việc mạnh dạn chứng khoán hóa các khoản vay, đồng thời phát triển thị trường mua bán nợ minh bạch. Đây là một mũi tên trúng hai đích: vừa giúp ngân hàng giải phóng dư nợ để có thêm “room” cung ứng tín dụng mới, vừa kiểm soát được rủi ro thanh khoản.
Song song với việc cấu trúc lại tín dụng, việc mở “van” thị trường vốn được xem là lối thoát sinh tử. Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh nguyên tắc cơ bản của tài chính hiện đại: Thị trường tiền tệ có chức năng cung cấp vốn ngắn hạn, còn dòng vốn dài hạn chủ yếu qua kênh trái phiếu và cổ phiếu. Để thị trường trái phiếu đáp ứng được nhu cầu này, đại biểu Nguyễn Hải Nam hiến kế: cần hoàn thiện hành lang pháp lý (đặc biệt là các Nghị định 153, 65 và 08) theo nguyên tắc “không quản lý quá chặt hoặc quá lỏng”.
Bên cạnh đó, cần thiết lập các định chế đầu tư chuyên nghiệp, thậm chí thí điểm thành lập các Quỹ đầu tư quốc gia quy mô lớn (như mô hình CIC của Trung Quốc hay GIC của Singapore) để chủ động rót vốn vào các lĩnh vực then chốt. Chỉ khi thị trường vốn đủ sâu và đủ rộng, ngân hàng mới thoát khỏi cảnh phải đôn đáo lo nguồn vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế.
Đẩy mạnh tài khóa, nâng tầm thị trường chứng khoán để “chia sẻ gánh nặng” với ngân hàng
Thấu hiểu sâu sắc những áp lực đang đè nặng lên hệ thống tài chính - tiền tệ, Chính phủ đã định hình một tư duy điều hành vĩ mô mới mẻ và quyết liệt. Phát biểu trước Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đã đưa ra những thông điệp mang tính chiến lược, trực tiếp giải quyết bài toán “chia lửa” cho ngành Ngân hàng nhằm kiến tạo động lực cho tăng trưởng hai con số.
Phó Thủ tướng ghi nhận và đánh giá rất cao vai trò của ngành Ngân hàng khi khẳng định: Chính sách tiền tệ trong thời gian vừa qua đã vận hành hết sức quyết liệt, có những đóng góp đáng kể cho tăng trưởng kinh tế và đóng vai trò mấu chốt trong việc đảm bảo nền kinh tế phát triển ổn định, đặc biệt là ổn định vĩ mô. Tuy nhiên, dưới nhãn quan phân tích thực tiễn, lãnh đạo Chính phủ bày tỏ sự đồng tình với các đại biểu Quốc hội là hiện dư địa của chính sách tiền tệ đã từng bước bị thu hẹp lại rất nhiều. Không thể tiếp tục vắt kiệt sức của hệ thống ngân hàng bằng các chính sách nới lỏng tiền tệ đơn thuần.
Định hướng của Chính phủ là phải khẩn trương chuyển trọng tâm sang khai thác tối đa sức mạnh của chính sách tài khóa. Để thực hiện việc mở rộng tài khóa hợp lý, có trọng tâm trọng điểm, Chính phủ đã trình Quốc hội nâng tỷ lệ bội chi bình quân từ mức 3% GDP của giai đoạn trước lên 5% trong giai đoạn 2026 - 2030; đồng thời tăng mức chi ngân sách lên 1,9 lần, dành tới 40% cho đầu tư phát triển (gấp gần 2,4 lần giai đoạn trước).
Dù vậy, Phó Thủ tướng cũng nhìn nhận, chính sách tài khóa luôn có độ trễ. Do đó, trong khoảng thời gian chờ các nguồn lực từ ngân sách phát huy hiệu quả, chính sách tiền tệ vẫn được giao trọng trách phải vận hành trơn tru nhằm bảo đảm thanh khoản và cung ứng nguồn lực ngắn hạn thiết yếu cho các doanh nghiệp, người dân và nền kinh tế.
Để giải quyết căn cơ điểm nghẽn về vốn trung và dài hạn, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng công bố mục tiêu đầy tham vọng nhưng bắt buộc phải làm là: Phát triển mạnh mẽ thị trường chứng khoán thành kênh huy động vốn trung và dài hạn chủ lực. Chính phủ đang ráo riết chỉ đạo phấn đấu nâng mức vốn hóa của thị trường chứng khoán lên 120% GDP vào năm 2028, tiệm cận với quy chuẩn của các quốc gia phát triển trong khu vực và thế giới. Mục tiêu tối thượng của thị trường chứng khoán là phải “chia sẻ gánh nặng với các ngân hàng khi mà hiện nay nguồn vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp vẫn tập trung chủ yếu từ nguồn vốn của ngân hàng”.
Không chỉ dừng lại ở việc thiết kế lại cấu trúc thị trường tài chính, Chính phủ còn chủ động tạo ra các luồng sinh khí mới bằng việc cởi trói bằng cơ chế. Phó Thủ tướng cho biết, Chính phủ đang trình Quốc hội ban hành nghị quyết tháo gỡ khó khăn toàn diện cho tất cả các dự án tồn đọng (không chỉ giới hạn ở đất đai). Nếu nút thắt này được gỡ bỏ, nền kinh tế sẽ lập tức huy động được tối đa một nguồn lực khổng lồ lên tới hơn 3,3 triệu tỷ đồng để phục vụ tăng trưởng. Lượng vốn khổng lồ này khi được đưa vào lưu thông sẽ lập tức giảm tải áp lực phải bơm thêm dư nợ mới từ hệ thống ngân hàng, giúp ngân hàng lành mạnh hóa bảng cân đối kế toán.
Trần Hương
Nguồn TBNH : https://thoibaonganhang.vn/can-chia-lua-cho-he-thong-ngan-hang-181165.html