Đàn vịt Cổ Lũng gần 1.000 con của anh Lục Văn Nam. Ảnh: Đình Minh.
Sinh ra và lớn lên ở bản Khuyn, nơi cuộc sống người dân chủ yếu gắn với nương rẫy và chăn nuôi nhỏ lẻ, anh Lục Văn Nam sớm quen với những con suối đầu nguồn chảy quanh các bản làng của đồng bào Thái. Sau khi tốt nghiệp trung cấp nông lâm, anh từng thử sức với nhiều mô hình phát triển kinh tế nhưng hiệu quả không cao. Không muốn rời quê đi làm ăn xa, anh luôn trăn trở tìm một hướng đi phù hợp với điều kiện tự nhiên và thế mạnh bản địa của địa phương.
Trong quá trình tìm hiểu, anh nhận ra vịt Cổ Lũng là giống vật nuôi đặc trưng của vùng đất này. Đây là giống vịt bản địa được người dân nuôi từ nhiều đời, có đặc điểm thịt thơm, săn chắc, ít mỡ và phù hợp với hình thức chăn thả dưới các khe suối tự nhiên. Tuy nhiên, nhiều năm trước, việc nuôi vịt ở địa phương còn manh mún, chủ yếu phục vụ nhu cầu gia đình nên chưa tạo được giá trị kinh tế rõ rệt. Giống vịt này cũng từng đứng trước nguy cơ bị lai tạp, mai một.
Năm 2014, anh Nam quyết định bắt tay khởi nghiệp với giống vịt quê hương. Anh đi nhiều bản làng để tìm mua vịt thuần chủng gây đàn. Từ vài chục con ban đầu, anh vừa nuôi vừa tích lũy kinh nghiệm, từng bước mở rộng quy mô chăn nuôi. Theo anh, chất lượng vịt Cổ Lũng không chỉ phụ thuộc con giống mà còn ở môi trường chăn nuôi. “Vịt được thả tự nhiên dưới suối, thường xuyên vận động nên thịt săn chắc và ít dịch bệnh hơn so với nuôi nhốt. Vì vậy, việc lựa chọn nguồn nước, khu vực chăn thả và cách chăm sóc đều phải phù hợp với điều kiện tự nhiên” - anh Nam chia sẻ.
Để duy trì đàn vịt khỏe mạnh, mỗi ngày anh đều trực tiếp kiểm tra nguồn nước, theo dõi thời tiết, vệ sinh khu vực chăn nuôi và quan sát sự phát triển của đàn. Vào mùa mưa lũ, anh phải chủ động di chuyển đàn vịt đến khu vực an toàn để tránh nước lớn cuốn trôi. Những ngày thời tiết thay đổi thất thường cũng là thời điểm cần theo dõi kỹ nhằm hạn chế dịch bệnh phát sinh.
Sau hơn 10 năm gắn bó với mô hình nuôi vịt suối, đến nay gia đình anh duy trì đàn khoảng 1.000 con gồm vịt sinh sản, vịt giống và vịt thương phẩm. Để mở rộng quy mô, anh Nam tiếp tục liên kết với 18 hộ dân trên địa bàn xã, trong đó anh phụ trách cung cấp con giống cho bà con, sau 3 tháng sẽ nhận thu mua toàn bộ số vịt để bán ra thị trường, trung bình khoảng 1.500 con/tháng, góp phần giúp bà con có công ăn việc làm và tăng thu nhập.
Ngoài ra, trung bình mỗi ngày, gia đình anh cũng xuất bán từ 20 - 30 con vịt thương phẩm cho các nhà hàng, khu du lịch và các cơ sở kinh doanh ẩm thực tại địa phương, đặc biệt là khu du lịch Pù Luông. Nhờ chất lượng thịt thơm ngon, vịt Cổ Lũng ngày càng được nhiều du khách biết đến như một đặc sản của vùng cao Bá Thước. Từ mô hình chăn nuôi này, gia đình anh có nguồn thu khoảng 300 triệu đồng/năm.
“Nuôi vịt Cổ Lũng không phải là mô hình có thể cho thu nhập nhanh mà cần làm lâu dài, kiên trì, nắm chắc kỹ thuật và đặc biệt phải giữ được môi trường chăn nuôi phù hợp. Nếu nguồn nước ô nhiễm hoặc chăm sóc không đúng cách thì chất lượng đàn vịt sẽ bị ảnh hưởng ngay” - anh Nam nói và cho biết, điều anh tâm huyết nhất là phải giữ được nguồn gen vịt bản địa của quê hương, bởi vịt Cổ Lũng không chỉ đơn thuần là vật nuôi mang lại thu nhập mà còn là sản vật gắn với đời sống, tập quán và văn hóa của đồng bào Thái ở vùng Pù Luông.
Ông Trương Văn Hoan - Trưởng phòng Kinh tế thuộc UBND xã Cổ Lũng cho biết: Những năm gần đây, địa phương cũng triển khai nhiều chương trình phục hồi và phát triển giống vịt Cổ Lũng theo hướng chăn nuôi an toàn sinh học. Từ những hộ tiên phong như anh Lục Văn Nam, mô hình nuôi vịt suối đang dần được nhân rộng, góp phần tạo sinh kế cho người dân miền núi, đồng thời đưa vịt Cổ Lũng trở thành sản phẩm đặc trưng của xứ Thanh.
Đình Minh